CHƯƠNG 1 TONG QUAN CÁC TÀI LIEU NGHIÊN CỨU VE VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIEN CÔNG NGHIỆP CHE BIEN SAN PHAM CHAN NUÔI 1. Những tài liệu nghiên cứu liên quan đến phat triển công nghiệp chế biến đối với sản phẩm chăn nuôi Qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến dé tài cho thay có một số công trình đã quan tâm nghiên cứu về phát trién CNCB SPCN. Dé có thé kế thừa và hoàn thiện khung lý thuyết, luận án sẽ chia các nghiên cứu liên quan thành các nhóm như sau: 1. Các nghiên cứu liên quan đến vai trò phát triển công nghiệp chế bién sản phẩm chăn nuôi Trong một nền kinh tế mà nông nghiệp là nghề chính của người dân thì các quốc gia đặt trọng tâm hơn vào công nghiệp hoá lĩnh vực chế biến nông sản dé tạo điều kiện gắn kết giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Trong bối cảnh này, công nghiệp hoá đòi hỏi phải thành lập các ngành CNCB nông sản, sử dụng các nguyên liệu nông nghiệp sẵn có tại địa phương, trong đó có CNCB SPCN. Các nước đang phát triển từ lâu đã thúc đây quá trình chế biến giá trị gia tang của các sản phâm sơ cấp như một con đường dẫn đến công nghiệp hoá (Seluhinga & Philip, 2021). CNCB nông sản không chỉ tạo thêm giá trị gia tăng mà còn tạo ra việc làm trực tiếp và gián tiếp, đặc biệt là ở nhiều khu vực đặc biệt đề hấp thụ lực lượng lao động dư thừa. Bằng số liệu đáng tin cậy, đóng góp của CNCB SPCN vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), xoá đói giảm nghèo, tăng cường xuất khâu đã được thảo luận trong nghiên cứu của Suresh Neethirajan & cộng sự (2021).
Hon thé nữa, nghiên cứu này đã khang định một cách thuyết phục về đóng góp bằng tiền của lĩnh vực này, cũng như những thiệt hại về kinh tế và xã hội do không đầu tư vào lĩnh vực này và từ đó đưa ra các kiến nghị với chính phủ dé tăng nguồn lực phát triển cho lĩnh vực. Ngành chăn nuôi và CNCB SPCNở các nước đang phát triển cũng đóng góp cung cấp nguồn lương thực ổn định, việc làm và cơ hội tăng thu nhập (Serra & cộng sự, 2020). Thái Lan hiện nay là quốc gia đang phát triển, dé nâng cao thu nhập bình quân đầu người thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước, muốn vậy thì cần phát triển nhóm ngành tiềm năng, trong đó có CNCB thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm từ SPCN (Sawangrat, 2020). Bởi vì đây là lĩnh vực công nghiệp quan trọng đối với Thái Lan ở cấp độ cao.
CNCB là ngành sử dụng nhiều lao động nhất, có giá trị đầu tư, giá trị gia tăng cao nhất và được đầu tư vào nghiên cứu và phát triển nhiều nhất trong số các lĩnh vực sản xuất khác nhau ở Thái Lan (Sawangrat, 2020). Loison (2020) cho rằng, quá trình chuyển đổi nông nghiệp thành công là một quá trình thống nhất. Và phát triển ngành chăn nuôi quy mô nhỏ, thê hiện bằng việc tăng cường sản xuất và thương mại hóa các SPCN là con đường đóng góp vào sự thành công đó. Mặc dù, việc thúc đây phát triển CNCB nông sản, trong đó có CNCB SPCN không phải là ý tưởng ban đầu của chính phủ Thái Lan, nhưng ngành đó lại được quảng bá với tên gọi “công nghiệp nông nghiệp” trong những năm 1980 (Jermsittiparsert & cộng sự, 2019).
Nguyên nhân dang sau sự thay đổi này là do CNCB nông sản được coi là ngành tạo ra lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư ngành nông nghiệp, hỗ trợ phát triển nông thôn cũng như đưa về nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Đặc biệt, với hệ thống nhà máy chế biến trải rộng khắp đất nước cùng với sự hỗ trợ của nhà nước đã giảm thiểu van dé di cư từ nông thôn ra thành thị (Bhagwat & Sharma, 2007). Theo Owoo & Lambon-Quayefio (2018) mặc dù ngành CNCB SPCN ở Ghana bị chỉ phối bởi doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, nhưng nó lại đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ghana bởi nó tạo ra việc làm và thu nhập cho người dân, đặc biệt là công việc và thu nhập cho phụ nữ. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy đóng gop rõ ràng và vai trò quan trọng của CNCB đối với SPCN cho nền kinh tế các quốc gia (Fukase & Martin, 2018).
Cụ thé, tại Sahel, SPCN qua chế biến có vai trò chính cho tăng trưởng và hội nhập khu vực. SPCN chưa và đã qua chế biến đóng góp khoảng 19% GDP của cả nước ở Mali và là mặt hàng xuất khâu lớn thứ 3 sau vàng và bông. Ở Kenya, SPCN chiếm giá trị thị trường ước tính 800 triệu đô la Mỹ, cung cấp 80% lượng thịt bò tiêu thụ hàng năm (Behnke & Muthami, 2011). Ở Sudan, các hoạt động CNCB SPCN đã tạo ra giá trị 12,3 và 14,5 tỷ đô la Mỹ - tương ứng với từ 23% đến 27% GDP năm 2009.
Ở Ethiopia, hoạt động này cung cấp 80% kim ngạch xuất khẩu và lợi tức đầu tư từ 25% đến 30% mỗi năm (Behnke & Metaferia, 2011) trong khi ở Tây Nam Uganda, hoạt động chế biến mang lại lợi nhuận trên mỗi ha đất cao hơn 6,8 lần so với hệ thống trang trại (Ocaido & cộng sự 2009). Lý luận về tầm quan trọng của CNCB SPCN đã được trình bày thông qua nghiên cứu về các doanh nghiệp trong ngành thịt ở Serbia từ năm 2010-2012 (Mijic & cộng sự, 2014). Nghiên cứu này đã phân chia các doanh nghiệp thành 2 nhóm: các doanh nghiệp chăn nuôi và các công ty bảo quản và chế biến. Kết quả quan sát chi ra rang: lĩnh vực bảo quản và chế biến thịt ở Serbia đóng vai trò quan trọng trong ngành sản xuất nông nghiệp hơn bởi vì nó tích hợp các chủ thể tham gia vào các giai đoạn khác nhau trong chuỗi sản xuất thịt bao gồm sản xuất thức ăn chăn nuôi, chăn nuôi, chế biến và bán các sản phẩm từ thịt.
Tác động của CNCB SPCN, cụ thé là chế biến sữa và các sản phẩm thịt từ trang trại ở Bỉ, Pháp, Đức và Anh tới kinh tế - xã hội của các trang trại, hộ gia đình và địa phương cũng đã được nghiên cứu do một tô chức của EU tài trợ (Revell & Francois, 2014). Các trang trại này đều có diện tích lớn hơn mức trung bình của cả nước và hầu hết là dùng đến sản xuất nông nghiệp thông thường. Nó đã phác thảo quy mô và sự phân bố của hoạt động CNCB SPCN ngay tại trang trại, dé từ đó chỉ ra 2 vấn đề: (1) tác động của nó đến hoạt động kinh doanh nông nghiệp; thu nhập của hộ gia đình và đóng góp giải quyết việc làm ở nông thôn; (2) thái độ và hành vi mua hàng của người tiêu dùng đối với các sản phẩm này. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chế biến chiếm một phần quan trọng và ngày càng tăng trong thu nhập của các hộ gia đình.
Hay nói cách khác, chế biến tạo ra càng ngày càng nhiều giá trị tăng thêm so với chăn nuôi thuần tuý. Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận là thị trường cho các sản phẩm này rất tiềm năng và cơ hội mở rộng lớn, các vấn đề cần lưu ý là chiên lược vê giá cả, xúc tiên và phân phôi sản phâm. 10 Ngoài ra, nghiên cứu ở Mỹ của Saul & cộng sự (2014) chỉ ra răng một cơ sở chế biến SPCN nằm trong vùng nông thôn (cụ thé là ở Palouse, Washington, nơi có dân số khoảng 1.000 người) thì có tác động kinh tế đáng ké đến nền kinh tế địa phương. Tuy nhiên, néu một cơ sở chế biến SPCN được đầu tư phát triển và nằm ở những vùng đô thị lớn hơn (chăng hạn như Lewiston, dân số hơn 30.000 người) thì tác động sẽ nhỏ hơn rất nhiều và không đáng kê so với nền kinh tế địa phương.
Đây là cơ sở dé tham khảo nhằm có những chiến lược phát trién CNCB SPCN phù hợp với từng địa phương, vùng miền. Bên cạnh đó, CNCB SPCN được chứng minh là có đóng góp to lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghéo ở Thái Lan (Watanabe & cộng sự, 2009). Thực tế là, hầu hết người nghèo ở Thái Lan đều làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Chính vì vậy việc phát triển của CNCB SPCN 6 Thái Lan sẽ tác động đến việc giảm nghèo thông qua 2 kênh: (1) thu mua nông sản của nông dân và (2) tạo việc làm cho người nghèo tại các nhà máy chế biến.
Với kênh thứ nhất, việc thu mua SPCN của doanh nghiệp chế biến góp phần tăng sản lượng nông nghiệp chăn nuôi hơn bất kỳ ngành nào khác. Việc thu mua SPCN được duy trì 6n định sẽ kích thích phát triển ngành chăn nuôi, từ đó dẫn đến thu nhập của người dân được cải thiện. Đối với kênh thứ hai, CNCB SPCN thu hút lượng lớn người nghèo nhất trong các ngành sản xuất, không chỉ vì quy mô của nó mà còn vì cường độ lao động cao đặc biệt là về việc làm của người nghéo. Ngoài ra, CNCB SPCN mang lại cơ hội việc làm lớn cho nông dân trong thời kỳ trái vụ.
Các nghiên cứu liên quan đến điều kiện, nguôn lực phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi Nghiên cứu ở Cộng hoà Kazakhstan giai đoạn từ 2015-2019 đã được triển khai và đánh giá thực trạng CNCB SPCN (Kushebina & Kukhar, 2020). Từ đó, đã chi ra một số vấn dé chính ở ngành này là: thiếu cơ sở cung cấp và chất lượng nguyên liệu đầu vào kém do quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ; hệ thống bảo quản kém phát triển dẫn đến chi phí bảo quản và vận chuyên SPCN cao; mức độ cơ giới hoá, tự động hoá, trình độ khoa học lạc hậu; nguồn nhân lực được đào tạo ít, không có 11 các chuyên gia; khả năng bảo hộ thị trường nội địa kém, bị bán phá giá hàng nhập khẩu; nguồn lực về vốn không đủ, khó thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực này; sự liên kết giữa nhà cung cấp nguyên liệu và nhà sản xuất thành phẩm lỏng lẻo; cơ sở hạ tang kém;. Những vấn đề trên đã có tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của lĩnh vực này ở Kazakhstan. Từ đó, nhóm tác giả đã đề xuất những điều kiện, nguồn lực tiền dé dé hình thành và thúc đây phát triển CNCB SPCN mạnh mẽ va hiệu quả, đặc biệt nhấn mạnh đến hướng hỗ trợ chính của nhà nước đối với các doanh nghiệp chế biến SPCN.
Về nguồn lực KHCN trong phát triển CNCB SPCN đã được Hồng Lan (2018) trình bay trong nghiên cứu của minh. Cụ thé, KHCN giúp làm giảm tốt thất sau thu hoạch và trong quá trình chế biến, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh, đảm bảo chất lượng sản pham,.