Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Chương 3: Một số giải pháp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Lai Châu đến năm 2025. 7 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN 1.
Khái quát về doanh nghiệp tƣ nhân 1. Khái niệm doanh nghiệp tư nhân DNTN là một bộ phận quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân gắn liền với quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Do đó, sự vận động và phát triển của DNTN gắn liền với sự vận động và biến đổi của quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Ở nhiều nước, DNTN là bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế, giải quyết việc làm, tăng cường khả năng xuất khẩu,.
ở Việt Nam, sự phát triển của kinh tế tư nhân nói chung và DNTN nói riêng mới thực sự bắt đầu từ khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới từ Đại hội VI năm 1986. Từ sau khi thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc đã dần khẳng định: Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế. Sự phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có DNTN đã tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
Có thể khẳng định những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo ra những hành lang pháp lý rất thuận lợi để DNTN phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực và quan trọng vào quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, việc nhìn nhận DNTN cũng còn có 8 những quan niệm khác nhau. Có quan điểm cho rằng, các DNTN trong nước trong đó có cả các HTX nông nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp. Quan điểm này hiểu DNTN theo nghĩa rộng, bao quát cả khu vực HTX nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Điều này phản ánh tiềm năng to lớn của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của DNTN khác hẳn với HTX. Trên thực tế mức đóng góp của kinh tế HTX hiện nay còn thấp hơn nhiều so với các DNTN. Do đó việc đánh giá vai trò của DNTN còn khó khăn.
Quan điểm khác cho rằng, DNTN là những doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Quan điểm này xem xét DNTN bao gồm những doanh nghiệp không thuộc sở hữu vốn nhà nước. Đó là những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Quan điểm này hiểu DNTN bao gồm các loại hình doanh nghiệp ngoài doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước.
Năm 1990, Luật DNTN ra đời, đã khẳng định:“DNTN là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”[16] Năm 1999, Luật Doanh nghiệp được thông qua đã có những quy định chi tiết hơn về DNTN. Nhưng về quan hệ sở hữu và nghiên cứu dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị thì DNTN là các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Nếu xét theo loại hình doanh nghiệp thì KTTN ở nước ta theo luật doanh nghiệp gồm: - Công ty trách nhiệm hữu hạn (có 2 thành viên trở lên). - Công ty cổ phần.
- Công ty hợp danh. Nếu xét theo nội dung kinh doanh thì DNTN kinh doanh những ngành nghề, lĩnh vực mà luật pháp không cấm, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mặc dù có hình thức sở hữu tư nhân, nhưng theo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX được ấn định là một thành phần kinh tế riêng.[17] 9 Do quá trình thực hiện có nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra, trải qua nhiều giai đoạn và liên tục được sửa đổi bổ sung, đến nay Luật Doanh nghiệp 2014 đã gần như hoàn thiện các điều khoản cần thiết cho DNTN thành lập và hoạt động. Theo đó Luật Doanh nghiệp 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2015), Điều 183 quy định: “1. DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN. Chủ DNTN không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp doanh. DNTN không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Như vậy, quan niệm và phát triển nhận thức về DNTN là một quá trình phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp, luôn biến đổi, trong giới hạn nhất định, quan niệm như vậy là tương đối phù hợp. Theo khái niệm trên, DNTN có những đặc trưng cơ bản sau: DNTN do một cá nhân làm chủ;chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định lựa chọn ngành nghề kinh doanh, tuyển dụng lao động; chủ doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động SXKD; có trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác; DNTN không có tư cách pháp nhân. Chính vì vậy, DNTN phát huy được năng lực sáng tạo của chủ doanh nghiệp trong nền KTTT.
Chủ doanh nghiệp là người lao động chính có thể tự quản lý doanh nghiệp của mình hoặc cũng có thể thuê người khác quản lý, điều hành doanh nghiệp. Điều này là do nhận thức mới về sở hữu trong đó quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh có 10 thể thống nhất trong một chủ thể hoặc có sự tách biệt tương đối giữa các chủ thể khác nhau. Do đó, một mặt vừa khai thác có hiệu quả của nguồn vốn vừa phát huy năng lực sáng tạo của nhiều nhà quản lý SXKD, là hoàn toàn phù hợp với tình hình nước ta hiện nay khi nhiều người có trình độ quản lý giỏi nhưng không có điều kiện để tự thành lập doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định quy mô, phương thức hoạt động quản lý kinh doanh cũng như sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
Là doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tức là khi chủ sở hữu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sau khi sử dụng hết tài sản của công ty vẫn chưa trả hết nợ thì chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ dùng tài sản riêng của mình để chi trả. DNTN không có tư cách pháp nhân, không có tài sản độc lập, tài sản của doanh nghiệp với tài sản của chủ doanh nghiệp không có sự phân biệt rõ ràng. Cũng chính điều này mà DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào, điều này sẽ khó khăn khi thị trường chứng khoán phát triển, đòi hỏi một lực lượng hàng hóa giao dịch lớn thì DNTN chưa thể tham gia vào thị trường này. Vai trò của doanh nghiệp tư nhân Sauhơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, các DNTN ở nước ta đã đóng góp phần tích cực và quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
DNTN đã đóng vai trò to lớn trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực: lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ, tay nghề truyền thống,. DNTN cũng góp phần to lớn trong việc tăng cường khả năng xuất khẩu, mở rộng thị trường, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Về cơ bản, vai trò của DNTN thể hiện: Thứ nhất, là nhân tố thúc đẩy sức cạnh tranh của nền kinh tế. 11 Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, kinh tế quốc doanh “một mình một trợ” không công nhận thị trường, giá cả, càng không chấp nhận cạnh tranh, do đó không có yêu cầu nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm.
Ngày nay khi chấp nhận nền KTTT với nhiều thành phần kinh tế, nhất là trước yêu cầu hội nhập, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi thì nhân tố cạnh tranh đương nhiên thuộc về DNTN. Thứ hai, là khu vực góp phần ngày càng quan trọng vào sự tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP) Cho đến nay, mặc dù vẫn còn chịu nhiều rào cản, nhiều đối xử bất công và nhũng nhiễu của những công chức tiêu cực, kinh tế tư nhân đã trở thành lực lượng chủ công trong nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế, trong tất cả các ngành từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ thương nghiệp nội địa đến xuất khẩu. Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong giai đoạn 2006-2015, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp hơn 40% GDP cả nước, trong đó DNTN đóng góp hơn 10% GDP cả nước. Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, từ con số gần 63.000 doanh nghiệp hoạt động năm 2002 đã lên khoảng 550.000 doanh nghiệp hoạt động tính đến tháng 12/2016.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập trong năm 2016 là trên 110.Sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân trong đó có DNTN ngày càng tăng chứng tỏ môi trường đầu tư kinh doanh nước ta đã cải thiện đáng kể. Hoạt động SXKD của các DNTN trở nên có hiệu quả. Năng lực về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý của DNTN được nâng lên. Đội ngũ doanh nghiệp dần trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, thích ứng với cơ chế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
DNTN là lực lượng quan trọng góp phần lớn vào ngân 12 sách nhà nước.