Chương 1. Một số vấn đề lý luận về Thương mại quốc tế, Hải quan và thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK phải kiểm tra chuyên ngành. Thực trạng hoạt động kiểm tra chuyên ngành và thực hiện quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK phải kiểm tra chuyên ngành tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng giai đoạn 2010 – 2014.
Một số biện pháp hoàn thiện quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK thuộc diện phải kiểm tra chuyên ngành tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng giai đoạn 2016 – 2020. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ, HẢI QUAN VÀ THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU PHẢI KIỂM TRA CHUYÊN NGÀNH 1. Khái niệm, vai trò Thương mại quốc tế và Hải quan 1.
Khái niệm, vai trò của Thương mại quốc tế a) Khái niệm Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các doanh nghiệp, tổ chức của các quốc gia thông qua hành vi mua, bán. Các doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế phải hoạt động trong môi trường có tính quốc tế và phải thường xuyên đối phó với những tác động của môi trường này. Việc tiến hành các hoạt động thương mại quốc tế sẽ tuỳ thuộc vào các mục tiêu của công ty và các phương tiện mà công ty lựa chọn thực hiện [26, tr. b) Vai trò của Thương mại quốc tế - Thương mại quốc tế là động lực để tăng trưởng kinh tế [26, tr.
35-36] Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, GDP của một quốc gia được xác định theo phương pháp chi tiêu và luồng sản phẩm theo công thức: GDP = C + I + G + (X-M) (1.1) Trong đó: C: Tiêu dùng của hộ gia đình; I: Tổng đầu tư; G: Tiêu dùng của Chính Phủ; X: Xuất khẩu; M: Nhập khẩu. Như vậy theo công thức trên tổng thu nhập quốc dân phụ thuộc rất lớn vào hoạt động xuất nhập khẩu (hay thương mại quốc tế) của nước đó, đặc biệt là xuất khẩu. Tuy nhiên xuất khẩu lại phụ thuộc vào nhập khẩu, vì thế giải quyết mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu là vấn đề phức tạp nhưng rất 6 quan trọng vì nó sẽ tác động tích cực hay tiêu cực đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Xuất khẩu liên quan đến thu ngoại tệ còn nhập khẩu liên quan đến chi ngoại tệ.
Vì vậy, hoạt động xuất nhập khẩu tác động đến quỹ tiền tệ, dự trữ ngoại tệ của đất nước, từ đó tác động đến tổng cầu của toàn nền kinh tế. Nếu xuất khẩu thuần dương thì tổng cầu sẽ tăng, còn xuất khẩu thuần âm tổng cầu sẽ giảm. Tổng cầu tăng làm nền kinh tế tăng, thương mại quốc tế phát triển, thị trường được mở rộng, cho phép tăng chuyên môn hóa sản xuất, tiếp nhận công nghệ mới, khuyến khích phát minh sáng chế nâng cao năng suất lao động dẫn tới tăng tổng sản phẩm quốc dân. Đồng thời cho phép các quốc gia mở rộng sản xuất trên cơ sở chuyên môn hóa một cách sâu sắc.
Từ đó ngoại thương tạo điều kiện cho các quốc gia mở rộng đường giới hạn khả năng sản xuất dịch chuyển ra xa hơn so với đường giới hạn khả năng sản xuất cũ. - Thương mại quốc tế thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia theo hướng khai thác tối đa lợi thế so sánh [26, tr. 36] Xu hướng có tính quy luật chung của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Muốn chuyển một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bước: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công- nông nghiệp để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển.
Nội dung cụ thể của xu thế này thể hiện ở tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm đi trong khi đó tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng trong tổng GDP, giai đoạn đầu tốc độ tăng của công nghiệp sẽ cao hơn dịch vụ, nhưng giai đoạn sau, khi nền kinh tế đã phát triển cao, thì dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn. Trong sự vận động chung, ngoại thương với các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nó tác động đến toàn bộ quá trình tái sản xuất hàng hóa, từ sản xuất, lưu thông, phân phối đến tiêu dùng. Đặc biệt đối với các ngành sản xuất vật chất cơ bản như công nghiệp, nông nghiệp… ngoại thương đã tác động trực tiếp đến cả đầu vào và 7 đẩu ra của quá trình tái sản xuất, do đó đã góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngoại thương cũng tạo ra các “ mối liên hệ ngược”, “ mối liên hệ gián tiếp”, giữa các ngành, tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế năng động.
- Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế [26, tr. 37] Cán cân thanh toán quốc tế là bản quyết toán tổng hợp toàn bộ các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của một nước, bao gồm các luồng hàng hóa, dịch vụ và luồng vốn giữa các nước đó với các nước khác trong một thời kỳ nhất định. Như vậy, cán cân thanh toán quốc tế là tấm gương phản chiếu mọi hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước với các nước khác và do đó nó đã được các nước có nền kinh tế mở sử dụng như một công cụ đắc lực để phân tích và quản lý vĩ mô các hoạt động kinh tế đối ngoại. Cơ cấu cán cân thanh toán quốc tế bao gồm các bộ phận chủ yếu: cán cân ngoại thương (còn gọi là cán cân mậu dịch hay cán cân hữu hình), cán cân dịch vụ và cán cân chuyển tiền đơn phương không bồi hoàn (gọi chung là cán cân phi mậu dịch hay cán cân vô hình), cán cân nguồn vốn…trong đó ngoại thương hữu hình vẫn là hoạt động quan trọng nhất, do vậy cán cân ngoại thương giữ vị trí quan trọng nhất trong tất cả các bộ phận cấu thành nên cán cân thanh toán quốc tế.
Đối với những nước đang phát triển có nền kinh tế mở quy mô nhỏ, thì việc quan tâm trước hết đến cải thiện cán cân ngoại thương càng có ý nghĩa quyết định đến cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Vì thực tế cho thấy, do xuất phát điểm trình độ kinh tế xã hội của các nước này thấp, nên hiệu quả thu được từ các hoạt động kinh tế đối ngoại khác thường khó đạt đến sự mong muốn ngay như hiệu quả của hoạt động thương mại quốc tế, là hoạt động kinh tế đối ngoại có thể tận dụng triệt để ngay các nguồn lực( lợi thế so sánh) mà các nước này sẵn có. Nếu hoạt động xuất nhập khẩu ổn định, cán cân thanh toán an toàn thì sẽ giúp ổn định kinh tế vĩ mô của một quốc gia, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp, tâm lý yên tâm làm ăn, sinh sống cho người dân. 8 - Góp phần giải quyết việc làm , nâng cao thu nhập và mức sống thực tế cho các tầng lớp dân cư [26, tr.
38] Có thể nói đây là tác dộng có ý nghĩa quan trọng nhất bởi mục tiêu cuối cùng của sự tăng trưởng là con người, hướng tới con người. Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Hoạt động ngoại thương thông qua cách giải quyết quan hệ xuất khẩu - nhập khẩu có tác động trực tiếp đến việc làm và do đó, đến thu nhập và mức sống thực tế của người dân. Hiện nay, để phát triển kinh tế các nước đều cố gắng tận dụng mọi lợi thế mà nước mình có được.
Đối với các nươc đang phát triển thường có dân số đông, lao động dư thừa nhiều, nhất là lao động của nền sản xuất hàng hóa còn kém, vốn đầu tư cho phát triển thiếu. Vì thế, nên hướng sản xuất hàng hóa xuất khẩu vào những ngành sử dụng lợi thế của đất nước. Khi xuất khẩu tăng trưởng thường kéo theo sự gia tăng sản xuất trong nước. Cầu lao động tăng nhanh dẫn tới giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn lao động dư thừa.
Người lao động có việc làm tức là có thu nhập, bởi vậy mức sống của họ được cải thiện đáng kể. Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu không chỉ đáp ứng cho sản xuất mà còn cho cả tiêu dùng. Hàng nội vì phải cạnh tranh với hàng ngoại nên không ngừng nâng cao chất lượng và hạ giá bán. Người được lợi ở đây chính là người tiêu dùng ngày càng được sử dụng những hàng hóa đa chủng loại và chất lượng cao.
- Ngoài ra, thương mại quốc tế giúp mở rộng quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia, làm thúc đẩy hội nhập quốc tế [26, tr. - Tiết kiệm tài nguyên, nguồn lực cho các quốc gia [26, tr. Như vậy, thương mại quốc tế có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp, quốc gia, toàn cầu nên mỗi quốc gia đều sử dụng các công cụ thuế quan, phi thuế quan để thúc đẩy hoặc hạn chế XNK. Đóng vai trò là cơ quan gác cổng cho các Chính Phủ, Hải quan chịu trách nhiệm 9 kiểm soát hoạt động XNK thông qua các biện pháp thuế quan hoặc phi thuế quan.
Khái niệm, vai trò và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Hải quan a) Khái niệm Nội hàm khái niệm về hải quan được đưa ra để cùng nhận thức, hoặc cao hơn là để thống nhất nhận thức về một lĩnh vực có tính đa dạng này. Khái niệm về hải quan đã được nêu ra tại luật Hải quan năm 2001 của Việt Nam, tại từ điển tiếng Việt và của WCO; nội hàm đưa ra nhằm giải thích hải quan là cảng biển, hải quan là tổ chức quản lý nhà nước, tiếp cận từ công cụ của nhà nước thì hải quan là lực lượng vũ trang, lực lượng bán vũ trang, thuế quan. Như vậy, cần phải có một sự tiếp cận hệ thống thì mới có thể nhận thức đầy đủ được về hải quan. Trước hết, về điều kiện cần và đủ để có hải quan Khi có “giao thương quốc tế” thì sẽ xuất hiện hải quan, vấn đề này dễ được nhận biết nhất.
Mặt khác, nếu không có “cửa khẩu” thì không có địa bàn để hải quan hoạt động và do vậy không có hải quan. Điều dễ thấy ở đây là biên giới nhiều quốc gia thường có độ dài tính bằng trăm hoặc nghìn km, trong khi cửa khẩu thì không thể trải dài trên toàn tuyến như vậy.