Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ TUÂN THỦ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến quản lý tuân thủ đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu của cơ quan hải quan 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã được công bố ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu chung về quản lý tuân thủ đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu của cơ quan hải quan Quản lý tuân thủ đối với DN XNK của CQHQ là phương thức quản lý tiên tiến, khoa học và có tính tổ chức cao nhằm thực hiện thành công hai chức năng cơ bản, đó là kiểm tra, kiểm soát tất cả hàng hóa XK, NK và quá cảnh qua biên giới quốc gia và tạo thuận lợi thương mại trong xu thế tự do hóa thương mại.
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) (2004) [76] ban hành “Quản lý Tuân thủ rủi ro: Quản lý và cải thiện việc TTT” được xem là cẩm nang thực hành TTT được các cơ quan QLT và CQHQ trên thế giới nghiên cứu áp dụng, trong đó đã chỉ rõ quản lý, cải thiện TTPL thuế đối với DN phải có mục tiêu rõ ràng, tiêu chí cụ thể để theo dõi và đánh giá công tác thực hiện. Tài liệu chỉ ra 4 nội dung tập trung thực hiện tuân thủ đó là: (1) người thực thi tuân thủ và quản lý hành vi tuân thủ; (2) mức độ tuân thủ; (3) nghĩa vụ, tiêu chí chấp hành, tuân thủ PLT; và (4) vai trò và ý nghĩa quản trị phương thức QLTT của các cơ quan liên quan. Nội dung này được Ngân hàng thế giới (WB) đề cập trong “Sổ tay Hiện đại hóa hải quan” phát hành năm 2005 [94], được hiểu là sáng kiến thực hành trong công tác hiện đại hóa hải quan của các nước và khu vực. Theo đó, David Widdowson (1998, 2006, 2012) trong nghiên cứu “Quản lý rủi ro trong lĩnh vực hải quan” [96], đã tổng hợp và phân tích đặc trưng của các phương thức QLHQ đang được áp dụng trên thế giới trong Ma trận quản lý tuân thủ tại Hình 1.
Ma trận Quản lý tuân thủ Nguồn: David Widdowson (1998, 2006) Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả chưa đặt riêng QLTT như một phương thức độc lập mà đưa vào áp dụng trong nội dung QLRR hải quan. Quan điểm về QLTT đối với DN XK, NK hàng hóa được WCO khẳng định trong “Khung tiêu chuẩn an ninh và tạo thuận lợi thương mại toàn cầu” (WCO, 2005) [90]. Theo đó, WCO thay mặt các CQHQ thành viên đưa ra định hướng hoạt động trong Thiên niên kỷ 21, đồng thời nhấn mạnh hai nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh, và tạo thuận lợi thương mại toàn cầu. Kim chỉ nam cho mối quan hệ hoạt động giữa Hải quan và DN với khuyến nghị hướng DN đến tuân thủ tự nguyện được xem là nội dung cốt lõi nhất của phương thức QLTT.
Phương thức QLTT đối với DN của CQHQ không thể tách rời khỏi một công cụ hữu hiệu đó là “Quản lý rủi ro”. Về vấn đề này, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) trong tài liệu “Hướng dẫn Quản lý rủi ro” (2005) [65] đã đưa ra kiến thức chung nhất, cơ sở khoa học cho việc thực hiện công tác QLRR của CQHQ trong hoạt động nghiệp vụ thông quan hàng hóa XNK với nguyên tắc tạo thuận lợi cho những giao dịch có rủi ro thấp hoặc rất thấp về vi phạm PLHQ, ngược lại tăng cường kiểm tra, kiểm soát các giao dịch có rủi ro cao. Tài liệu “Cẩm nang về quản lý rủi ro” của WCO (2011) [92], là công trình đầy đủ và nhiều thông tin về thực hành QLRR trong lĩnh vực hải quan, góp phần hỗ trợ hải quan các nước thành viên áp dụng phương thức QLRR toàn diện và hiệu quả nhất trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, các công cụ và phương thức QLHQ hiện đại, trong đó lần đầu tiên WCO đưa ra “tuyên ngôn” chính thức về phương pháp QLTT 7 hiện đại dựa trên phân tích rủi ro. Theo đó, QLTT là sự kết tinh trí tuệ, kinh nghiệm thực tiễn của hải quan các nước hơn hai thập kỷ qua.
Tuy nhiên, WCO vẫn chưa có “Cẩm nang riêng về quản lý tuân thủ” như là chuẩn mực quốc tế để các nước thành viên nghiên cứu học tập, triển khai trong thực tiễn của mình. WCO ban hành “Khung tuân thủ hải quan, bao gồm việc tự nguyện cung cấp thông tin và chất lượng dữ liệu khai báo” (2014) [93], trong đó tập hợp các lý thuyết về QLTT của CQHQ đối với DN XNK như: khung tuân thủ, khung tuân thủ tự nguyện, cách giảm chi phí tuân thủ, ưu đãi đối với đối tượng tuân thủ, chất lượng dữ liệu trong môi trường tự động, khuyến nghị về việc tự nguyện cung cấp thông tin và chất lượng dữ liệu khai báo hải quan, tăng khả năng phát hiện vi phạm; đưa minh họa mô hình Kim tự tháp tuân thủ của một số nước đã áp dụng có hiệu quả, khuyến nghị các nước thực hiện. Báo cáo là hình mẫu tốt cho hải quan các nước lựa chọn áp dụng về QLTT trong giai đoạn hiện nay. Liên đoàn Dịch vụ và Công nghiệp Thụy sỹ đã nghiên cứu “Các nguyên tắc cơ bản Quản lý tuân thủ hiệu quả” (2014) [79].
Đóng góp cơ bản đưa ra khái niệm về hành vi TTPL của chủ thể kinh tế, phân tích 5 yếu tố cơ bản của tuân thủ hiệu quả, giải thích rõ các yếu tố trên có tính liên kết, xâu chuỗi với nhau. Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tuân thủ đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu của cơ quan hải quan Fischer và cộng sự (1992, 2009) công bố nghiên cứu “Mô hình về hành vi TTT” [110], đã đưa ra mô hình nghiên cứu tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi TTPL thuế của chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế, trong đó chỉ ra 15 yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ của chủ thể, được phân thành 4 nhóm yếu tố chính bao gồm: nhân khẩu học; thời điểm không tuân thủ; thái độ và nhận thức; cấu trúc/hệ thống chính sách thuế. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ của người nộp thuế là hướng nghiên cứu mới, tập trung về hành vi tuân thủ và sự đa dạng hành vi không tuân thủ của các DN. Nicoleta Barbuta-Misu (2011) trong “Đánh giá các nhân tố cho việc TTT” [121] đã phân tích các biến TTT ở nhiều quốc gia khác nhau nhằm tạo ra mô hình QLTT thuế phù hợp với điều kiện ở Romania.
TTT đã được nghiên cứu bằng cách phân tích các quyết định cá nhân của người đại diện giữa nộp thuế và trốn thuế. Trong 8 đó, tác giả đưa ra hai yếu tố tác động đến tính TTT là kinh tế (gồm: mức thu nhập thực tế, thuế suất, xác suất kiểm tra, kiểm tra thuế, hình phạt, lợi ích về thuế, tiền phạt) và phi kinh tế (gồm: thái độ người nộp thuế, chuẩn mực xã hội, tính công bằng). Nghiên cứu thực tiễn áp dụng quản lý tuân thủ đối với doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu của hải quan các nước và khu vực Cơ quan hải quan Hoa Kỳ phát hành định kỳ ấn phẩm “Tuân thủ trên cơ sở được thông báo trước” (2004a) [83] đã tổng hợp các thông tin, hướng dẫn để hạn chế những khó khăn, vướng mắc gặp phải khi thực hiện TTHQ qua biên giới đối với cộng đồng DN nhằm đạt mức QLTT tốt. Đây là một trong những hình thức góp phần tạo ra môi trường TTPL cho DN được CQHQ Hoa Kỳ áp dụng.
Hải quan Úc ban hành “Sổ tay hướng dẫn tuân thủ” vào năm 2006 [68], là cuốn cẩm nang vừa tổng hợp nội dung lý thuyết, vừa thực hành tuân thủ trong hoạt động hải quan, chiến lược đảm bảo sự tuân thủ, kỹ thuật QLRR, hệ thống pháp luật và các chuẩn mực đảm bảo thực hiện QLTT. Tài liệu “Chương trình Tuân thủ hải quan 2007-2008” (2007) [69] của Hải quan Úc hướng dẫn chi tiết thực hiện QLTT, triết lý tuân thủ là tuân thủ tự nguyện và giáo dục, hướng đến các nhóm khách hàng cụ thể; phối hợp giữa Hải quan với DN thuộc các lĩnh vực, các cơ quan chức năng đảm bảo tính tuân thủ trong quản lý biên giới quốc gia. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hành vi TTPL của các chủ thể kinh tế, WCO và CQHQ các nước đã xây dựng, thực thi các chuẩn mực, tiêu chuẩn về QLTT ở nhiều khía cạnh của hải quan đối với DN XNK hàng hóa: “Báo cáo cuối cùng” về “Chiến lược QLTT thuộc Gói thầu Can thiệp bằng ngoại lệ, Phần Quản lý tuân thủ” do Công ty SMEC, Viện Thương mại Quốc tế Singapore thực hiện tại Việt Nam, trong khuôn khổ Dự án HĐH HQVN do WB tài trợ (2008), đã đưa ra khuyến nghị phương hướng, giải pháp thực hiện QLTT của HQVN cho giai đoạn 2010-2015 [95]. Mohd Rizal Palil và Ahmad Fariq Mustaapha, Đại học Kebangsaan Malaysia (2011), trong nghiên cứu về “Quá trình phát triển và khái niệm của sự TTT ở Châu Á và Châu Âu” [120] đã luận giải khái niệm TTT, cũng như không TTT, đã tổng hợp các phương pháp luận, chỉ số TTT và các biện pháp đảm bảo tuân thủ của các nước Châu Á và Châu Âu trong việc xây dựng khung chính sách quản lý hiệu quả việc TTT.
9 Cơ quan dịch vụ biên giới Canada nghiên cứu đánh giá về “Chương trình quản lý doanh thu và thương mại (Tuân thủ thương mại) (2011-2013)” (2011) [72], báo cáo chuyên sâu về TTT trong ba năm 2011-2013, phân tích kết quả thông quan 15 triệu giao dịch vận chuyển thương mại và thu trên 25 tỷ USD thuế NK và thuế doanh thu với mục tiêu đánh giá mức độ TTPL thương mại như thế nào cũng như đề xuất khung chính sách QLTT cho Chính phủ phê duyệt. Hải quan Nam Phi đưa ra “Chương trình Quản lý tuân thủ (2012, 2013 đến 2016, 2017)” [78] là một văn bản hướng dẫn thực tiễn về triển khai thực hiện công tác QLTT của CQHQ trong một giai đoạn nhất định theo chu kỳ kế hoạch từ 4-5 năm với nhiều nội dung như: nhiệm vụ mục tiêu của các bên liên quan, nhiệm vụ và công tác ưu tiên trong chương trình QLTT.