MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Gia công xuất khẩu hàng hóa cho thương nhân nước ngoài là một phương thức sản xuất kinh doanh thương mại quốc tế phổ biến trên thế giới. Trong những năm qua cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, Việt Nam đã trở thành một cứ điểm gia công quốc tế, một phần quan trọng trong chuỗi sản xuất trên thế giới. Thực tế hoạt động gia công xuất khẩu (GCXK) đã mang lại ý nghĩa kinh tế lớn cho quốc gia cũng như nhiều DN ở các lĩnh vực khác nhau.
Theo báo cáo tổng điều tra kinh tế năm 2017, trong năm 2016, doanh nghiệp Việt Nam thu được 8,6 tỷ USD từ hoạt động nhận gia công, lắp ráp hàng hóa cho nước ngoài. Ngoài ra, từ hoạt động thương mại GCXK, các doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước tiếp cận được trình độ quản lý tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần giải quyết được một lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời từng bước nâng cao kỹ năng lao động. Nhiều doanh nghiệp GCXK của Việt nam đã có uy tín tốt từ đó tăng lợi thế cạnh tranh so với các quốc gia khác, tăng nguồn thu ngoại tệ và tạo điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Những năm gần đây để tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động GCXK, Chính phủ đã ban hành và bổ sung, sửa đổi các cơ chế chính sách cùng một loạt hệ thống văn bản về Luật Hải quan, Luật Thuế, Luật Quản lý ngoại thương… nhằm quản lý và tạo điều kiện tối đa cho hoạt động GCXK.
Những quy định mới, thông thoáng trong thủ tục hải quan đối với hoạt động GCXK hàng hóa cho thương nhân nước ngoài đã tạo nhiều thuận lợi, cơ hội trong kinh doanh cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều này cũng kéo theo nhiều tiềm ẩn rủi ro, xuất hiện nhiều hoạt động gian lận thương mại trong GCXK. Bên cạnh các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật, đã có không ít doanh nghiệp lợi dụng các chính sách ưu đãi về thuế, các chính sách kinh doanh thông thoáng để thực hiện các hành vi gian lận gây thất thu NSNN, tạo ra sự bất bình đẳng trong hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các DN. Hơn nữa, khi Việt Nam hội nhập KTQT, tự do hóa thương mại, sự gia tăng về giá trị và khối lượng hàng hóa XNK, sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, CNTT và phương tiện kỹ thuật cao dẫn đến việc ra đời nhiều hình thức, phương thức, thủ đoạn GLTM ngày càng tinh vi và nghiêm trọng.
Theo quy định hiện hành, hồ sơ hải quan của loại hình gia công sản xuất xuất khẩu ngày càng được đơn giản hóa; các cơ sở sản xuất của doanh nghiệp lại phân tán, không tập trung, trong khi đó nguồn nhân lực i 2 của cơ quan Hải quan chỉ có hạn và cũng không thể thường xuyên, liên tục đến doanh nghiệp để kiểm tra, giám sát theo quy định… Do đó, Cơ quan Hải quan (CQHQ) cũng rất khó có thể thực hiện được việc kiểm tra, giám sát hải quan thường xuyên từ khi nhập khẩu nguyên phụ liệu, trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cho đến khi sản phẩm được xuất khẩu hoặc thay đổi mục đích sử dụng. Bên cạnh đó, do DN không phải thông báo hợp đồng gia công, không thông báo định mức sản phẩm xuất khẩu cho từng mã sản phẩm dẫn đến không có cơ sở xác định được sự chênh lệch, sai sót, gian lận… Trên thực tế, từ báo cáo quyết toán của DN nộp, cơ quan Hải quan khó có thể phát hiện được dấu hiệu bất thường từ các báo cáo này. Dựa vào đó, nhiều DN lợi dụng loại hình GCXK nhằm gian lận trốn thuế thông qua các thủ đoạn, như: khai sai định mức, khai khống nguyên phụ liệu xin tái xuất, tái xuất không đúng chủng loại nguyên phụ liệu, bán nguyên phụ liệu vào thị trường nội địa không khai báo, làm thủ tục hải quan, lợi dụng hình thức tiêu hủy nguyên phụ liệu để tẩu tán, đưa nguyên phụ liệu vào tiêu thụ trái phép trong thị trường nội địa nhưng không nộp thuế… Hoạt động gian lận của các doanh nghiệp gia công xuất khẩu đang ngày càng tinh vi và có xu hướng gia tăng nhiều hơn cả về số lượng và hình thức. Qua số liệu thống kê cho thấy tổng số vụ GCXK bị phát hiện và xử lý từ năm 2016 đến 2020 có xu hướng tăng cả về số lượng và giá trị kinh tế.
Nếu như năm 2016 cả nước có 669 vụ gian lận GCXK được phát hiện thì đến năm 2019 đã là trên 720 vụ và đến năm 2020 là trên 800 vụ. Con số này có thể chưa phản ánh hoàn toàn chính xác số vụ vi phạm trong lĩnh vực GCXK nhưng cũng đã cho thấy có xu hướng tăng lên qua các năm. Hiện tượng GLTM trong hoạt động GCXK đã tạo ra những tiêu cực cho môi trường kinh doanh lĩnh vực vực này. Gian lận thương mại trong hoạt động GCXK nguy cơ làm bóp méo môi trường cạnh tranh, tạo ra môi trường kinh doanh bất bình đẳng giữa các DN trong ngành gây ảnh hưởng tới các DN GCXK chân chính.
Ngoài ra, các hành vi GLTM ngày càng gia tăng tạo ra nguy cơ cản trở xuất khẩu của Việt Nam, làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín hàng xuất khẩu. Hành vi này sẽ làm giảm hoặc hạn chế sự phát triển thương mại, các DN vi phạm được hưởng lợi trong khi các DN hoạt động chân chính gặp bất lợi và giảm khả năng cạnh tranh. Hành vi này cũng làm giảm lợi ích mà Việt Nam có được từ các nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang gây dựng. Chính điều này cũng có nguy cơ gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này, làm giảm lợi ích đem lại cho kinh tế đất nước.
i 3 Trước thực trạng nêu trên, những năm vừa qua, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã thực hiện đổi mới các biện pháp quản lý về hải quan trong hoạt động GCXK. Các biện pháp quản lý này vừa nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ thu NSNN, vừa tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, công bằng, minh bạch, tạo điều kiện tối đa cho các DN. Việc thúc đẩy hoạt động thương mại XNK lành mạnh sẽ hỗ trợ xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực gia công xuất khẩu. Những yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách thủ tục hành chính đã và đang có những tác động đòi hỏi sự hoàn thiện của hệ thống quản lý hải quan hiện đại.
Những năm qua, đã có những tài liệu và những nghiên cứu về vấn đề phòng chống, hạn chế gian lận đối với hoạt động XNK và hoạt động GCXK, tuy nhiên với sự thay đổi từ cơ sở pháp lý đến thực tiễn đặt ra những nghiên cứu mới về quản lý hải quan đối với hoạt động GCXK trong thời gian tới. Từ đó, việc nghiên cứu đề tài luận án tiến sĩ: “Giải pháp hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu của Tổng cục Hải quan Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án Lĩnh vực gia công quốc tế và hạn chế gian lận thương mại là những đề tài được các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước quan tâm với những góc nhìn nghiên cứu đa dạng về đối tượng, nội dung và phạm vi tiếp cận. Tuy nhiên những nghiên cứu sâu về gian lận thương mại trong lĩnh vực gia công có tương đối ít và chưa cập nhật.
Các nội dung nghiên cứu về hạn chế GLTM nhìn từ góc độ hải quan cũng là chủ đề các quốc gia đang phát triển rất quan tâm. Tổng quan nghiên cứu liên quan hoạt động gia công xuất khẩu Trên thế giới, đề tài nghiên cứu hoạt động gia công xuất khẩu rất đa dạng và phong phú đặc biệt trong những thời kỳ những năm 2000 ở các quốc gia đang phát triển và có nhiều hoạt động gia công quốc tế. Hai tác giả Miaojie Yu và Wei Tian với nghiên cứu “Gia công thương mại của Trung Quốc” (China’s Processing Trade) (2011). Nghiên cứu này đã đưa ra cái nhìn tổng quan về thương mại gia công chế biến của Trung Quốc trong khoảng 10 năm, vai trò của gia công thương mại đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia này.
Do đó, hoạt động thương mại gia công, chế biến xuất khẩu đã phát triển rất nhanh chóng trong ba thập kỷ qua. Chính sách thương mại tự do của Trung Quốc cũng đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động thương mại này thể hiện qua 1 loạt các khu thương i 4 mại tự do, khu chế xuất và khu phát triển kinh tế và công nghệ được thành lập. Bài nghiên cứu với số liệu điều tra thứ cấp và sơ cấp cũng cho thấy cách thức quản lý của Chính phủ Trung Quốc với các khu công nghiệp này và các doanh nghiệp gia công xuất khẩu trong đó. Nghiên cứu “Bối cảnh lịch sử và đường lối phát triển của gia công thương mại mặt hàng thể thao tại Trung Quốc” (The Historical Status and Development Direction of Sports Goods Processing Trade in China) của nhóm tác giả Trung Quốc XI Yu-bao,GAO Shou-dong, JIN Tao (2015) (Physical Education College, Anhui Normal University, Anhui, China).
Với việc phân tích hình thức, thực trạng và các vấn đề của thương mại gia công hàng thể thao, bài báo kết luận rằng Trung Quốc đã trở thành cơ sở sản xuất gia công toàn cầu cho tất cả các thương hiệu hàng thể thao trên toàn thế giới. Tận dụng nhu cầu của thị trường thế giới, thương mại gia công hàng thể thao đã thúc đẩy việc sắp xếp lại cơ cấu, nâng cao công nghệ, cải tiến công nghệ sản xuất và trình độ quản lý, trẻ hóa ngành công nghiệp quốc gia. Thương mại gia công xuất khẩu cũng là một phương thức quan trọng để sử dụng vốn ngoại, tăng việc làm và nâng cao phẩm chất của người lao động. Để thúc đẩy tốt hơn nữa hoạt động gia công xuất khẩu này, các tác giả cũng đã đưa ra 1 số giải pháp trong công tác quản lý lĩnh vực này.