CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình khoa học đã được công bố trong và ngoài nước về tính bền vững của ngân sách nhà nước từ nguồn thu cân đối xuất nhập khẩu 1. Các công trình nghiên cứu về tính bền vững ngân sách nhà nước 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về tính bền vững ngân sách nhà nước Tính bền vững ngân sách nhà nước là vấn đề được tập trung nghiên cứu từ những năm 1980.
Về nội dung tính bền vững ngân sách, David Gruen và Duncan Spender (2012) thảo luận về một số vấn đề của Khối thịnh vượng chung, kiểm tra tính bền vững tài khóa từ quan điểm của Khối thịnh vượng chung, cũng như tính bền vững tài khóa với các tiểu bang và vùng lãnh thổ. Nghiên cứu nhấn mạnh đến các khoản nợ dự phòng, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tính bền vững ngân sách. Ngay cả khi các khoản nợ tiềm tàng được tính toán một cách đáng tin cậy thì vẫn còn khả năng chính phủ phải gánh thêm các khoản nợ mới trong thời kỳ khủng hoảng. Trong khi đó, Steve Onyeiwu (2022) nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững ngân sách.
Steve Onyeiwu rút ra kết luận về một số công cụ góp phần tăng tính bền vững trong bối cảnh kết hợp tăng trưởng kinh tế, bao gồm giảm chi tiêu công, tăng sản xuất hàng hóa góp phần tăng thuế xuất khẩu, giảm thuế suất. Ngoài ra, thông qua thúc đẩy xuất khẩu, hội nhập nhiều hơn với nền kinh tế toàn cầu, giảm thuế nhập khẩu, tự do hóa tỷ giá hối đoái và hệ thống thanh toán, phá giá tiền tệ, hạn chế thuế nhập khẩu và thành lập các văn phòng ngoại hối cũng là các công cụ được đánh giá cao. Evan Tanner (2013) giới thiệu khái niệm, phương pháp và các vấn đề liên quan đến tính bền vững ngân sách nhà nước, đặc biệt là trong bối cảnh của thế kỷ 21. Nghiên cứu đánh giá một cách nghiêm túc các công trình gần đây liên quan đến tính bền vững của nợ công.
Nghiên cứu kết luận rằng Phân tích tính bền vững của nợ (DSA) không chỉ là sự mô phỏng đơn thuần. Thay vào đó, DSA nên được liên kết với một số mục tiêu liên quan đến việc phân bổ gánh nặng tài chính và sự biến động theo thời gian (theo truyền thống về mục tiêu điều hòa thuế của Barro năm 1979). Nghiên cứu thảo luận về các hàm mục tiêu mang lại các quy tắc chính sách tài khóa đơn giản và minh bạch. 7 Về mục tiêu đánh giá tính bền vững, Peter Newell (2022) đánh giá tính bền vững trong mối quan hệ đòi hỏi sự tái cân bằng giữa tài chính công và tư nhân, đồng thời lồng ghép tài chính vào các khuôn khổ kiểm soát xã hội.
Khuôn khổ tính bền vững được đánh giá hướng tới nhu cầu xã hội và tái sản xuất dựa trên nguồn lực chung. Andrew Hughes Hallett (2008) nghiên cứu sự linh hoạt trong chính sách tài khóa kết hợp tính độc lập trong chính sách tiền tệ hướng tới bền vững tài khóa. Theo đó, các nhà lãnh đạo cần kết hợp cải thiện và giải quyết các vấn đề xung đột giữa các thể chế, chính sách trong dài hạn. Theo Manel Anteloa và David Peónb (2013), đánh giá tính bền vững thể hiện mục tiêu ổn định nợ công và tăng trưởng GDP.
Về tiêu chí đánh giá tính bền vững, Europe Commission (2020) phân tích tính bền vững ngân sách tại 26 quốc gia bộ tiêu chí riêng trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, các tiêu chí so sánh chỉ số tài khóa và chỉ số cạnh tranh tài chính được áp dụng. Trong khi đó, các tiêu chí trung hạn tập trung đánh giá, phân tích tính bền vững nợ (DSA) với công cụ phân tích đa dạng để xác định các rủi ro tài khóa, về cơ bản, liên quan đến mức độ và vòng quay tỷ lệ nợ của các quốc gia. Các tiêu chí đánh giá bền vững ngân sách trong dài hạn liên quan đến khả năng thanh toán, đề cập đến khả năng của một quốc gia trong việc đáp ứng các nghĩa vụ nợ của mình, trong một phạm vi hơn 50 năm, với một dòng thặng dư tài chính trong tương lai.
Theo IMF (2000) phân tích tính bền vững ngân sách trong bối cảnh trung hạn thông qua các chỉ số Nợ công/GDP và các chỉ số thu thuế. Để đo lường độ nhạy của tính bền vững, chỉ số nợ không chỉ xác định dựa trên nợ công mà còn cần được xem xét giữa các hình thức và loại hình nợ khác nhau, trong đó nợ nước ngoài được đề xuất chú trọng khi mở cửa tự do thương mại. Nợ nước ngoài được tập trung đánh giá với bộ chỉ số Nợ nước ngoài/Kim ngạch xuất khẩu, Nợ nước ngoài/GDP. Ngoài ra, WorldBank (1996) và WorldBank (1999) đề xuất các mức ngưỡng đo lường tính bền vững ngân sách qua các chỉ số Nợ/xuất khẩu, Nợ/Thu ngân sách, Nghĩa vụ nợ/xuất khẩu.
Michael Bräuninger (2005) phân tích tác động của nợ công đến tăng trưởng nội sinh theo mô hình thế hệ chéo. Chính phủ điều chỉnh tỷ lệ thâm hụt ngân sách. Nếu tỷ lệ thâm hụt vẫn ở dưới mức tới hạn thì sẽ có hai trạng thái ổn định trong đó vốn, sản lượng và nợ công tăng trưởng với cùng một tốc độ không đổi. Tỷ lệ thâm hụt tăng sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng.
Nếu tỷ lệ thâm hụt vượt quá mức tới hạn thì không có trạng thái ổn định. Tăng trưởng vốn giảm liên tục và vốn bị đẩy xuống 0 trong thời gian hữu hạn. Về đo lường, đánh giá tính bền vững ngân sách nhà nước, phần lớn các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng thông qua mô hình Gt + (1 + rt) Bt-1 = Rt 8 + Bt, trong đó G là chi tiêu chính phủ, R là thu ngân sách, B là nợ công. và Gabriel · Pataaree Sangduan (2010) sử dụng mô hình đánh giá chính sách tài khóa và bền vững ngân sách trong một thời kì nhất định và phân tích thời điểm chuyển đổi chính sách tài khóa, từ đó rút ra kết luận những thay đổi chính sách hoặc thay đổi đột ngột trong điều kiện kinh tế có thể có tác động đáng kể đến tốc độ thâm hụt tài khóa.
Trong khi đó António Afonso và João Tovar Jalles (2013) sử dụng mô hình và giả định tính bền vững ngân sách liên quan đến chu kì kinh tế và các biến kinh tế vĩ mô không bị ảnh hưởng bởi sự lựa chọn giữa phát hành nợ công và tăng thuế suất. Điều tra tính bền vững ngân sách tại 19 quốc gia trong góc nhìn dài hạn 1880 - 2009, các tác giả kết luận rằng tính bền vững ngân sách không tồn tại trong dài hạn. Tuy nhiên trong trung hạn, hoạch định chính sách có tác động cải thiện tính bền vững ngân sách, trong trường hợp các chính sách hướng tới mục tiêu giải quyết gánh nặng của các khoản nợ tiềm ẩn sắp xảy ra ở hầu hết các quốc gia. Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu đánh giá định lượng tính bền vững ngân sách tại nhiều quốc gia, thông qua nhiều phương pháp khác nhau, như Andrea Silvestrini (2007) sử dụng phân tích Bayesian kiểm định tính bền vững tại Ba Lan, Frederik Herzberg a & Angélique Herzberg (2013) kiểm định tính hội tụ các biến ngẫu nhiên Gaussian, Shyh-Wei Chen (2013) kiểm định các quốc gia G7 khi áp dụng thử nghiệm gốc đơn vị TAR, MTAR, LSTR-TAR và LSTR-MTAR.
Tuy nhiên, các phương pháp định lượng đều thực hiện kiểm định tính bền vững dựa trên mức chiết khấu tài sản quốc gia, tỷ lệ nợ công và GDP. Các công trình nghiên cứu trong nước về tính bền vững ngân sách nhà nước Các công trình trong nước chủ yếu nghiên cứu tính bền vững ngân sách từ vấn đề nợ công và thâm hụt ngân sách nhà nước. Về yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững ngân sách, Lê Thị Diệu Huyền (2020) nghiên cứu quy mô nợ công, khả năng xảy ra khủng hoảng nợ, ảnh hưởng đến tính bền vững. Theo nghiên cứu, Việt Nam vẫn đang kiểm soát tốt nợ công, các chỉ tiêu nghĩa vụ nợ nước ngoài so với xuất khẩu và so với thu ngân sách đều ở mức tương đối an toàn, đảm bảo khả năng thanh toán khoản nợ khi đến hạn.
Thông qua đánh giá thâm hụt ngân sách và nợ công tác động đến từng biến số lạm phát, lãi suất, cán cân thương mại và tỉ giá, tăng trưởng kinh tế, “hạ cánh cứng” - tình huống xảy ra khi nền kinh tế một nước nhanh chóng chuyển từ tăng trưởng cao sang tăng trưởng thấp và sau đó là suy thoái, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam (2013) các yếu tố có thể làm tăng/giảm tính bền vững ngân sách bao gồm: (i) thâm hụt/thặng dư ngân sách cơ 9 bản hàng năm; (ii) sự mất giá/lên giá của đồng nội tệ so với các ngoại tệ trong giỏ nợ công nước ngoài; (iii) sự giảm/tăng của tốc độ tăng trưởng kinh tế; (iv) sự giảm/tăng của tỉ lệ lạm phát; và (v) sự tăng/giảm tương đối của lãi suất nợ công trong tương lai so với tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa. Đánh giá riêng ảnh hưởng của cải cách thuế đến tính bền vững ngân sách, Võ Trí Thành (2019) đưa ra kết quả rằng tại Việt Nam, nguồn thu từ thuế đang có xu hướng giảm trong khi chi ngân sách đang có xu hướng tiếp tục tăng, đe dọa đến tính bền vững ngân sách ngân sách nhà nước. Điều này đặt ra yêu cầu cần có tầm nhìn dài hạn về cân đối thu chi ngân sách, dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính bền vững ngân sách, là thu thường xuyên phải lớn hơn chi vãng lai để tránh thâm hụt quá mức cũng như tránh trường hợp không có khả năng trả nợ, tạo thặng dư cho chi đầu tư phát triển. Đi sâu vào thực trạng tính bền vững ngân sách nhà nước, Võ Văn Hợp (2013) nhìn nhận tính bền vững ngân sách nhà nước thông qua tình hình thu chi ngân sách nhà nước, thâm hụt ngân sách nhà nước, nợ công, hội nhập kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010.
Đặng Xuân Hoan (2018) phân tích thực trạng tính bền vững ngân sách nhà nước qua thu ngân sách đảm bảo cân bằng giữa thuế trực thu, thuế gián thu và thuế thu trên tài sản; chi ngân sách qua quy mô chi và áp lực chi thường xuyên. Ngô Doãn Vịnh và Nguyễn Ngô Việt Hoàng (2021) trình bày một số vấn đề quan trọng về nhu cầu thu-chi ngân sách nhà nước theo hướng bền vững và đề xuất một số giải pháp chủ yếu gia tăng hiệu quả thu - chi NSNN Việt Nam. Trong khi đó, Nguyễn Thị Hồng Minh (2021) chỉ ra thực trạng cấu trúc chi NSNN chưa thực sự bền vững.