Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế tại cơ quan thuế Chương 2: Hoạt động quản lý nợ thuế tại Tông cục Thuế Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý nợ thuế tại Tông cục Thuế CHUONG 1 : CO SO LY LUAN VE QUAN LY NO THUE TAI CO QUAN THUE 1. Tổng quan về thuế 1. Khái niệm về thuế Theo Chủ nghĩa Mác — Lê nin về kinh tế chính trị học, thế ki XIX, Các-Mác nhận định: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản đề kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chỉ tiêu của nha medic”. Theo Điều 3 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội quy định: “7huế là một khoản nộp NSNN bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế” Từ việc tông hợp các khái niệm về thuế và qua các giác độ khác nhau, tác giả luận văn khái quát khái niệm về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau: “Thuế là một khoản nộp NSNN bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế nhằm đáp ứng nhu câu chỉ tiêu cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Đặc điểm của thuế Thuế có những thuộc tính tương đối ôn định qua từng giai đoạn phát triển và thể hiện ở những đặc điểm riêng giúp chúng ta phân biệt thuế với các công cụ khác. Có thể phân loại các đặc điểm đó như sau 1. Tỉnh quyền lực Ngay từ lúc phát sinh, thuế luôn luôn có công dụng là nguồn thu chính bổ sung cho nguồn tài chính cho nhà nước, đây cũng là chức năng cơ bản của thuế. Nhờ chức năng huy động các nguồn lực tài chính mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước được hình thành, qua đó đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động.
của nhà nước. 90% nguồn thu Ngân sách được tạo lập từ thuế, chỉ khi cho tht nh quyền lực thì mới đảm bảo việc thực hiện thu thuế đạt hiệu quả cao nhất, tạo lập nguồn thu tài chính cho quốc gia. Chính vì vậy, Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thê hiện bằng pháp luật. Tính bắt buộc “Thuế có một thuộc tính cơ bản là tính bắt buộc, có thể dùng để phân biệt thuế với các nguồn động viên tài chính khác của NSNN.
Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viên mang tính chất bắt buộc của nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một phần thu nhập của NNT được chuyên giao cho nhà nước mà không kèm theo bat ky một sự lợi ích hoặc quyền lợi nào khác cho NNT, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Bắt buộc đối với NNT, thể hiện ở chỗ dù họ có muốn hay không, khi họ đáp. ứng được những điều kiện luật định thì bắt buộc phải nộp thuế cho NSNN Bắt buộc đối với người thu thuế, thể hiện ở chỗ khi thay mặt cho nhà nước tiến hành thu thuế, các CQT phải thực hiện thu đúng chủ thể, bất kì chủ thê nào đáp ứng các điều kiện luật định phải nộp thuế thì phải tiến hành thu thuế, không được phép lựa chọn hành vi có thu thuế hay không thu thuế và đảm bảo bình đăng giữa các chủ thể nộp thuế.
Tỉnh không hoàn trả trực tiếp Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn lại cho NNT một cách gián tiếp thông qua các dịch vụ công do nhà nước cung. Việc hoàn trả gián tiếp này được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề trực tiếp cung cấp một dịch vụ công cộng nào cho. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự hoàn trả trực tiếp nào cho.
người dân hay NNT. Vai tré của thuế Vai tro ciia thué 1a su biéu hién cy thé chite năng của thuế trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khi sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế đã thay đồi, thì thuế đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của thuế có thể được nhìn thấy trong các phương diện sau: 1.
Thuế là nguôn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Thuế có nhiệm vụ phân phối lại thu nhập quốc dân, do vậy Ngân sách nhà nước được hình thành nhờ thuế, đây là nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chỉ tiêu công cộng. NSNN được thu từ nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhằm. đáp ứng yêu cầu chỉ tiêu chung cho nhu cầu công cộng. Trong tắt cả các nguồn, thu từ thuế thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tôi lg số thu NSNN.
Đây là nguồn thu ôn định nhất được hoạch định cân thận dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế đất nước và dự báo tiềm năng hàng năm. Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nên kinh tế Một trong những mặt hạn chế của kinh tế thị trường là sự chênh lệch lớn về mức sống và thu nhập giữa các tầng lớp xã hội. Khi nền kinh tế thị trường phát triển, khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư có xu hướng ngày càng lớn. Nha nước phải can thiệp vào việc phân phối thu nhập và của cải trong xã hội.
Thuế là một công cụ quan trọng mà các quốc gia có thê sử dụng đề tác động trực tiếp đến quá trình này. 'Việc cân bằng thu nhập giữa các tầng lớp xã hội được thực hiện bằng công cụ sử dụng các loại thuế gián thu và thuế trực thu, mà đặc biệt là thuế tiêu thụ đặc biệt. Hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ cao cấp, đắt tiền là đối tượng chịu thuế chủ yếu. của loại thuế này.
Các hàng hoá, dịch vụ này thường chỉ được sử dụng nhiều bởi những người có thu nhập cao trong xã hội, do đó việc sử dụng loại thuế này có thể điều tiết bớt một phần thu nhập của họ. Thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân áp dụng thuế suất luỹ tiến từng phần là loại thuế có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề điều tiết thu nhập và thực hiện công bằng xã hội. Trong cơ chế thị trường, thuế không chi có nhiệm vụ là nguồn thu chủ yếu của NSNN, mà còn là một công cụ kích thích sự phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Dưới góc độ công lý, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền nhận và cung.
cấp hàng hóa công cộng nhất định, sau khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ. Ngoài ra, theo chính sách kinh tế của đất nước, nhà nước có thể tác động thông qua thuế, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho kinh doanh trong một số ngành, vùng kinh tế nhất định đề thúc đây phát triển sản xuất kinh doanh, xây dựng, hình thành cơ cấu hợp lý hơn. Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh 'Vai trò này được thê hiện trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về thuế trong thực tế. Đề bảo đảm công tác thu thuế và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định luật thuế đã ban hành, CQT và các cơ quan liên quan phải nắm rõ số lượng, quy mô của các cơ sở sản xuất, ngành nghề, địa bàn và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các tiêu chuẩn chỉ tiêu nhất định và các.
phương pháp kế toán riêng có. Thông qua hoạt động thu thuế, CQT sẽ nhận thức được những khó khăn mà họ gặp phải và giúp họ tìm ra mọi giải pháp khả thi. Đồng thời, từ hoạt động thu thuế, CQT nâng cấp được nhiều kỹ năng quản lý kinh tế để thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này tốt hơn. Như vậy, thông qua hoạt động QLT mà các mặt hoạt động của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có thê được kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện, bảo đảm thực hiện tốt nền hành chính công trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội.
Vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội 'Với nền kinh tế thị trường hiện nay, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp. Trên thực tế, sự phát triển của một quốc gia là kết quả của nỗ lực của cả một cộng đồng, sẽ không. công bằng nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế với tất cả mọi người. Bởi vậy quá trình phân phối thu nhập cần có sự can thiệp của Chính phủ, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa thông qua việc sử dụng các công cụ thuế.
Với các sắc thuế như: Thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế TNCN. theo hướng thuế đánh cao vào những hàng hóa đắt tiền, dịch vụ chất lượng cao cấp, người có thu nhập cao nhằm làm giảm bớt thu nhập của các doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập cao. Đồng thời thuế đánh thấp vào những hàng hóa dịch vụ cần thiết cho đại bộ phận dân chúng. Như vậy, việc qui định về đối tượng chịu thuế, thuế suất từng ngành hàng như trên bên ngoài như là một sự cưỡng chế nhưng bên trong nhằm.
điều chỉnh các mối quan hệexã hội nhất định. Các vấn đề chung về nợ thuế 1. Một số khái niệm liên quan đến nợ thuế Theo Mục III Phần I Quy trình Quản lý nợ ban hành kèm Quyết định số 1129/QĐ-TCT của Tổng cục Thuế ngày 20/7/2022 giải thích một số từ ngữ như sau: “Tiền thuế nợ là tiền thuế và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan quản lý thuế quản lý thu mà người nộp thuế chưa nộp NSNN khi hết thời hạn nộp theo quy định. Khoản nợ là số tiền thuế nợ theo từng hạn nộp, tiểu mục mà đã quá thời hạn nộp theo quy định nhưng người nộp thuế chưa nộp vào NSNN.