CHƯƠNG 1 N Ộ I DƯNG VÀ YÊU CẦU CỦA Q U Ả N LÝ H Ả I QUAN ĐỐ I VỚI H O Ạ T ĐỘ NG X U ÂT N H Ậ P KH AU CỦA DO ANH N G H IỆP 1. HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHAU VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUÂT NHẬP KHAU. Hoạt động xuất nhập khẩu: 1. Khái niệm hoạt động xuất nhập khẩu: H° ? đ^ng xuât kh^u’ nhập kh^u hàng hoá là hogt đ0nỗ mua, bán hàng hoá của thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo các hợp đồng mua bán hàng hoá, bao gồm cả hợp đồng tạm nhập tái xuất, tam xuất tái nhâp va chuyen khẩu hàng hoá.
Quản lý hoạt động xuất nhập khẩu: a. Điêu kiện đê kinh doanh xuất nhập khẩu: Thương nhân là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật được phép xuất khẩu, nhạp khẩu hàng hoắ theo ngành nghề đã đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kính doanh. Ngoài ra, các chi nhánh Tổng Công ty, công ty được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá theo uỷ quyền của Tổng giám đốc Tổng Công ty, giám đốc Công ty phù hợp với nội dung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Tổng công ty, cong ty. Can lưu ý là trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, doanh nghiệp phải dang ky ma so doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tại cơ quan Hải quan.
Hình thức quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu: Nhà nước quản lý các hàng hoá xuất nhập khẩu dưới bốn hình thức sau: - Các loại hàng được quyền tự do xuất nhập khẩu; - Các hàng hoá bị cấm xuất nhập khẩu; - Các hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện; - Hàng hoá tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu. Điêu kiện đê hàng hoá xuất nhập khẩu: 6 Hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện là hàng hoá xuất nhập khẩu theo hạn ngạch (quota) hoặc hàng hoá xuất nhập khẩu theo giấy phép của Bô Thương mai hoặc Bộ quản lý chuyên ngành. Sau đây là Danh mục hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện: Hang hoa xuât nhập khâu có hạn ngạch: Gạo, hàng hoá theo han ngach do cac to chưc kinh tê và nước ngoài ấn định đối với Viêt Nam (như hàng dêt mav mặc, giày da). - Hàng hoá xuất nhập khẩu có giấy phép: Xăng dầu, phân bón, xe hai bánh gan may va linh kiện lăp ráp đồng bộ, xe ô tô du lịch từ 12 chỗ ngồi trở xuống sắt thép, xi măng, đường tinh luyện, đường thô nguyên liệu.
Nội dung quản lý hải quan đối với hoạt động xuất nhập khẩu: 1. Khái niệm hải quan và hoạt động hải quan: Theo các nhà kinh điển, hải quan và hoạt động hải quan trên thế giới đã xuât hiện từ lâu đời, từ khi xã hội có phân công lao động, xuất hiện hàng hoá và nhu cầu trao đổi hàng hoá vượt khỏi lãnh thổ một cộng đồng và ngày nay là một quốc gia. Trên thê giới, hải quan mang nhiều tên gọi khác nhau: - Hải quan theo tiếng Anh là Customs' và tương đương với các thuật ngữ: thuế hải quan hoặc thuế xuất nhập khẩu; kiểm tra, kiểm soát và làm thủ tục hai quan; sơ/cục hai quan - tức chí về một tổ chức của hải quan - Hải quan theo tiếng Pháp là Douane12 có tên gọi là "thu quốc gia". - ở Việt Nam, ngày 10 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký sắc lệnh số 27/SL thành lập Hải quan Việt Nam có tên gọi: Sớ thuê quan và thuế gián thu".
Qua các thời kỳ cách mạng cua đat nươc, tên gọi tô chức Hải quan Việt Nam cũng có nhiều thay đổi và ngày nay gọi là Tổng cục Hải quan, v ề mặt ngôn ngữ, danh từ "hải quan" được khái niệm là: Việc kiểm soát và đánh thuế hàng hóa xuất nhập khẩu/thuế hải quan3. Mạc du tên gọi có thê khác nhau, nhưng Hải quan ở các nước đều 1Từ điển Anh Việt NXB Chính trị Quốc gia 1993 tr. 481 2 Petit Larousse Illustré 1990, tr.336 3 Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 1997, tr. 402 7 có đặc điểm chung sau đây: • Về tổ chức bộ máy.
Hải quan là một cơ quan thực hiện chức năng "cai trị" của Nhà nước. Tổ chức bộ máy của Hải quan có thể độc lập hay chưa độc lập, nhưng cán bộ làm công tác hải quan trên lãnh thổ một quốc gia được xếp vào loại công chức hoặc nhân viên nhà nước. Ngay từ thời kỳ nhà nước phong kiến, nhân viên hải quan được xếp vào địa vị cao trong bộ máy cung đình. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, Hải quan các nước, nói chung đều được tổ chức thành lập bộ máy độc lập, là một công cụ hành pháp của nhà nước.
Cơ quan Hải quan thay mạt nha nươc hoặc chính phủ quản lý lĩnh vưc hoạt đông hải quan • Về nhiệm vụ truyền thống. Hai quan các nước khác nhau cũng có chức năng, nhiệm vụ khác nhau trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội và phụ thuộc vào vai trò của nha nươc trong từng thời kỳ, nhưng nói chung, Hải quan mỗi nước đều có 4 nhiệm vụ truyền thống sau: M ột là, Kiểm tra, kiểm soát và giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phương tiện vận tải và hành lý xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh để bảo đảm cho hoạt động này tuân thủ pháp luật. Hai la, Thực hiện thu thuê xuất khẩu, nhập khẩu và hành lý xuất nhập cảnh. Ba là, Ngăn chặn hoạt động buôn lậu, chuyên chở hàng hóa trái phép qua biên giới.
Bon la, Thực hiện thống kê nhà nước về hải quan, cung cấp thông tin dữ liệu điều tiết vĩ mô cho nhà nước. • Về biện pháp hải quan. 8 Hải quan mỗi nước đều sử dụng hai biện pháp hải quan để tiến hành hoạt đọng cua minh, đó là biện pháp có tính chất thuế quan và biện pháp có tính chất phi thuế quan. Biện pháp có tính chất thuế quan được thể hiện thông qua hoạt động giám sát và thực thi pháp luật thuế hải quan theo luật định.
Biện pháp có tính chất phi thuê quan thể hiện thông qua các hoạt động của cơ quan hải quan, như: kiểm tra số lượng/hạn ngạch xuất, nhập khẩu- kiểm tra giấy phép xuất, nhập khẩu; quy định các thủ tục hải quan để hạn chế hay khuyến khích hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. • Về địa bàn hoạt động hải quan. Địa bàn hoạt động hải quan của mỗi nước là cửa khẩu biên giới (bao gồm cửa khẩu đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy, đường sông). Ngoài ra, tuỳ vào chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động kinh tế - xã hội của moi nươc, tưng thơi ky, mà địa bàn hoat đông hải quan còn bao gồm các khu vực khác nữa.
Nghiên cưu lịch sư hoạt động hai quan trên thế giới có thể cho thấy cùng với quá trình chuyển đổi chế độ xã hội, từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội tư ban, hoạt đọng hai quan nhăm bảo vê lơi ích quốc gia cũng ngày càng thay đôi vê thích ứng tình hình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, sự phát triển quan hệ quốc tế và kinh tế quốc tế. Tuỳ vào tình hình chính trị, hoàn canh hch sư, điêu kiện và đặc điểm nền kinh tê - xã hội của mỗi nước khu vực, tưng thơi ky, mà hình thức tô chức, tên gọi, vị trí, nhiệm vụ, phạm vi và nội dung hoạt động hải quan có sự khác nhau. Ngày nay, trong xu thế hội nhập ngày càng sâu sắc giữa các nước khu vực va quoc te, hai quan la một lĩnh vưc hoạt đông đươc các nước đăt vào vi trí quan trọng nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước của nhà nước. Mỗi quốc gia đều cố gắng thực thi một chính sách hải quan có lợi nhất và phù hợp với thông lệ, tập quán quốc tế.
Tuy vậy, sự nỗ lực của từng quốc gia đã không 9 còn có thể giải quyêt được các mâu thuẫn ngày càng tăng lên của việc toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Việc các quốc gia tập hợp lại thành các liên minh thuế quan, tổ chức thương mại khu vực và thế giới, vì vậy, đã đặt ra như một tất yếu khách quan và cấp bách. Việc thành lập Hội đồng hợp tác hải quan ngày 15/12/19504 ký thỏa thuạn GATT, cac vòng đàm phán u - ru - guay,. đều nằm trong cô gắng của các quốc gia điều chỉnh chính sách hải quan nhằm tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho việc phát triển kinh tế.
Đối với nước ta, việc gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia khu vực mậu dịch tự do Châu Á (AFTA), tham gia Diễn đàn Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) thực hiện Chương trình giảm thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), ký kết nhiều công ước quốc tế về hải quan (Kyoto, HS,.) là thành viên chính thức Hải quan thế giới (WCO) và nước ta đang tích cực chuẩn bị để tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO), điều đó đã khẳng định, lĩnh vực hoạt động hải quan Việt Nam không còn chỉ phạm vi quốc gia mà là lĩnh vực hoạt động trong quan hệ đối ngoại và kinh tê đối ngoại. Quản lý hải quan và nội dung quản lý hải quan: a. Khái niệm quản lý hải quan. Hải quan là một lĩnh vực hoạt động quan trọng đối với một quốc gia.
Chinh VI vậy, bât cư một nhà nước có chủ quyền nào cũng có chính sách và cac thiêt chê cụ thê quản lý lĩnh vực hải quan. Tuy vậy, do vai trò của nhà nước trong nền kinh tế ở mỗi nước không hoàn toàn giống nhau nên thuật ngữ "quản lý hải quan" có thể có nội dung được hiểu khác nhau. Quan lý hải quan thực chất là quản lý hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giơi, tưc quan lý một lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội của một quốc gia,thông qua tổ chức và hoạt động hải quan. 4 Convention Establishing Customs Co - operation Council, Brussell, 1981 tr.
43-58 10 Ở Việt Nam, theo tinh thần Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 1992, nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Do đó đối với lĩnh vực hoạt động hải quan, nhận thức quản lý hải quan trước hết là nhận thức quản lý nhà nước về hải quan.