CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG QUẢN LÝ CỦA HẢI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về nguồn nhân lực 1. Nghiên cứu của nước ngoài Từ những năm ở thập niên 1990, tại nhiều quốc gia trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực một cách có hệ thống, nhất là Mỹ, Vương quốc Anh, Nhật Bản và nhiều nước phát triển khác., trong một nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực của nhóm tác nghiên cứu phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (APEC) công bố năm 2001 trên tạp chí Human Resource Development Outlook [138], đã đưa ra những khái niệm về phát triển nguồn nhân lực.
Theo quan điểm phát triển, nhóm nghiên cứu này cho rằng phát triển nguồn nhân lực là một phạm trù nằm trong tổng thể quá trình thuộc về sự nghiệp phát triển con người. - Các nghiên cứu về phương pháp luận và nội dung phát triển nguồn nhân lực đã được công bố, trong đó, tiêu biểu là các tác giả như Charles Cowell và cộng sự [115]; Clayton Allen và Richard A. Các nghiên cứu này đều thống nhất cho rằng mô hình đào tạo mang tính hệ thống gồm phân tích, thiết kế, phát triển, thực hiện và đánh giá (ADDIE), đã được sử dụng trên 30 năm qua trên thế giới là những nội dung cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực trong mỗi tổ chức. - Julia Storberg và Walker Claire Gubbins [135] nghiên cứu về mối quan hệ xã hội của con người với phát triển nguồn nhân lực, đã đưa ra nội dung của phát triển nguồn nhân lực ở các phạm vi khác nhau có tính đến những liên kết, quan hệ đan xen giữa các đơn vị trong tổ chức và giữa tổ chức với xã hội bên ngoài.
- Trên tạp chí Human Resource Development International, Kristine Sydhagen và Peter Cunningham [140], thuộc Đại học Nelson Mandela Metropolitan đã công bố công trình nghiên cứu về khái niệm và nội dung của phát triển nguồn nhân lực. 11 - Về khái niệm và phạm vi của phát triển nguồn nhân lực trên khía cạnh học thuật, Greg G. Wang và Judy Y. Sun [127] đã công bố nghiên cứu nhằm làm rõ ranh giới của phát triển nguồn nhân lực trong tạp chí Human Resource Development International.
Trong bài viết này, các tác giả đã phân tích sự phân biệt giữa khái niệm phát triển nguồn nhân lực với phát triển vốn nhân lực và phát triển con người ở phương diện xã hội, qua đó có thể ứng dụng để làm rõ về mặt lý luận trong nghiên cứu nguồn nhân lực trong một tổ chức. - Tác giả Abdullsh Haslinda [109] cũng đã tập trung làm rõ khái niệm, mục đích và chức năng của phát triển nguồn nhân lực. Trong các nghiên cứu này, các tác giả đã tổng hợp lý thuyết và thực tiễn khái niệm, quan điểm về phát triển nguồn nhân lực ở các phạm vi, góc độ khác nhau từ các nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới đã được công bố. - Về động lực lao động, Kest [139] khẳng định tạo động lực cho người lao động là giúp cho một tổ chức tồn tại và phát triển.
Một vài tài liệu đề cập đến hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo động lực: nhóm yếu tố thuộc bản thân người lao động và nhóm yếu tố môi trường. Nhà nghiên cứu còn chỉ ra cách tiếp cận với tạo động lực theo hai cách khác nhau: các học thuyết về nội dung (của Maslow, Alderfer, McClelland, Herzberg) chỉ ra cách tiếp cận với các nhu cầu của lao động quản lý; nhóm học thuyết về quá trình (của Adams, Vroom, Skinner, E. Locke) tìm hiểu lý do mà mỗi người thể hiện hành động khác nhau trong công việc. Những nghiên cứu trong nước Nghiên cứu về nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực hải quan nói riêng, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở các góc độ khác nhau.
- Chương trình khoa học cấp Nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội” của GS.TS Nguyễn Mạnh Đường [52] làm chủ nhiệm. - Nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ do Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thực hiện năm 2003 với đề tài “Kinh tế tri thức với đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thập niên đầu của thế kỷ XXI”[93], trong đó có nhiều bài viết, tham luận của 12 các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục tập trung chủ yếu vào vấn đề giáo dục và đào tạo của đất nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới: hội nhập và tiến tới nền kinh tế tri thức. - Tác giả Đoàn Văn Khái [24] công bố nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ CNH- HĐH, đưa ra những quan điểm, phương hướng và một số giải pháp mang tính vĩ mô trong phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010. - Luận án Tiến sỹ kinh tế của Phan Thủy Chi [60] “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các trường đại học khối kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế”.
Đây là một nghiên cứu khá hệ thống về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở các trường đại học nhưng giới hạn ở việc khảo sát các tác động thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế. - Đề tài cấp Bộ “Năng lực, hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính nhà nước: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” của Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ [2], đã tập trung nghiên cứu về hiệu lực quản lý hành chính nhà nước, trong đó đã đặt công chức trong mối quan hệ với nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý hành chính nhà nước. Những nghiên cứu về lao động quản lý Trong một báo cáo năm 2004, các học giả thuộc Học viện Hành chính Quốc gia Úc [121], cho rằng lao động quản lý là một khái niệm đang được tranh luận hiện nay, và được đề cập đến dưới nhiều góc độ khác nhau; trong đó hầu hết các khái niệm được tiếp cận dưới góc độ học thuật như tâm lý học, quản lý học, xã hội học, chính trị học, hay hành chính học. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, lao động quản lý được nhìn nhận dưới góc độ cá nhân đặt trong bối cảnh hoạt động của một tổ chức.
Những thành công hay thất bại của tổ chức đều có sự ảnh hưởng của vai trò cá nhân người lãnh đạo. Chất lượng lao động quản lý và vì thế cũng được đề cập đến thông qua khả năng phát hiện vấn đề, hoạch định chiến lược, tổ chức thực hiện chiến lược, cũng như kết nối, thúc đẩy đội ngũ nhân sự trong tổ chức. Trong lĩnh vực quản lý công, các học giả đặt lao động quản lý trong một bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, trong đó những thách thức ngày một lớn hơn. Đánh giá cao vai trò cá nhân của lao động quản lý, các học giả cũng nhấn mạnh vị thế, bối cảnh của tổ chức mà các 13 cá nhân lao động quản lý đang dẫn dắt.
Vì vậy, theo Edwards, Ayres và Howard [121], khái niệm lao động quản lý được hiểu là: ”Những hoạt động của cá nhân và tổ chức nhằm: xác định mục tiêu của tổ chức, xây dựng chiến lược và kế hoạch nhằm tiến tới mục tiêu; đồng thời dẫn dắt tổ chức, thúc đẩy đội ngũ nhân lực trong tổ chức cùng đi đến và đạt được mục tiêu. Điều này đòi hỏi cá nhân lao động quản lý phải là người nhiệt huyết, luôn thực hiện đúng các cam kết, có trí tuệ, có khả năng thuyết phục, và có khả năng hiểu cấp trên cũng như biết quy tụ nhân viên cấp dưới trong tổ chức” Đánh giá vai trò của lao động quản lý, các nhà nghiên cứu cho rằng khái niệm trên cần phải đặt nhà quản lý trong môi trường hoạt động của mỗi tổ chức, đồng thời nhấn mạnh năng lực cá nhân trong việc nhìn nhận và xử lý các vấn đề trong một môi trường quản lý bao quát [121]. - Một nghiên cứu về trường hợp của Trung Quốc, Pittinsky and Zhu [149] đã đưa ra khái niệm về lao động quản lý là: ”một quá trình năng động, mà theo đó nhà quản lý cùng những thành viên trong tổ chức cùng kết hợp, tương tác lẫn nhau để đạt được mục tiêu thông qua sự thay đổi”. Với vai trò lãnh đạo của mình, nhà quản lý thường đưa ra định hướng cho sự thay đổi hơn là trực tiếp thực hiện sự thay đổi đó; đồng thời họ cũng thực hiện các chức năng khuyến khích, thúc đẩy các thành viên trong tổ chức.
Theo Zhu [149] và cộng sự, lao động quản lý trong lĩnh vực công cần quan tâm đến ba khía cạnh: (1) lao động quản lý với tư cách là lãnh đạo chính trị; (2) lao động quản lý phải gắn liền với các cơ quan hành chính; và (3) lao động quản lý phải phục vụ lợi ích cộng đồng, phải là người chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ hành chính cho cộng đồng. - Ngoài ra, theo Haq [129], lao động quản lý dẫn dắt các thành viên trong tổ chức hướng đến các mục tiêu đã xác định. Đây được xem là một trong những trách nhiệm cơ bản của lao động quản lý để đảm bảo tổ chức vận hành đúng các chức năng đã định. Một cách chung nhất, lao động quản lý là: ”Một quá trình sử dụng các phương tiện, mà theo đó nhà quản lý thuyết phục và hướng dẫn các thành viên trong tổ chức đạt được các mục tiêu đã xác định.
Các chuẩn mực và giá trị thuộc về nhà lãnh đạo là yếu tố dẫn dắt các giá trị trong tổ chức trong quá trình tiến tới mục tiêu”. 14 Cũng theo Haq [129] , việc tạo hình ảnh nhà quản lý có phẩm chất đạo đức tốt sẽ mang lại những chuẩn mực ứng xử trong một đơn vị hành chính cụ thể. Giá trị này góp phần vào thành công của bộ máy hành chính. Tuy nhiên, học giả này cũng nhấn mạnh thêm rằng lao động quản lý cần phải hoàn thiện các kỹ năng cơ bản về công nghệ, về nhận thức, về biểu cảm, về khả năng thuyết phục, và kỹ năng xử lý các luồng dư luận xã hội.
- Từ các bài báo đăng tải trên tạp chí The Leadership Quarterly’s, Steers, Sanchez-Runde và Nardon , Kellerman và Webster [137], Dionne và cộng sự [120], đã tổng kết các nghiên cứu về lao động quản lý giai đoạn 25 năm qua.