phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan lý luận về cơ chế kiểm tra sau thông quan Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu 3 z Chƣơng 3: Thực trạng cơ chế kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu của Hải quan Hà Giang Chƣơng 4: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa nhập khẩu của Hải quan Hà Giang 4 z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1. Một số vấn đề cơ bản về kiể m tra sau thông quan 1.1 Khái niệm về kiểm tra sau thông quan Kiểm tra hải quan là một hệ thống tổng thể bao gồm các biện pháp kiểm tra khác nhau nhƣ kiểm tra hải quan trƣớc thông quan, kiểm tra hải quan trong quá trình thông quan hàng hoá XNK và KTSTQ. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Hội đồng Hợp tác Hải quan (Tổ chức Hải quan thế giới ngày nay, gọi tắt là WCO) đã bắt tay nghiên cứu các biện pháp quản lý hải quan tiên tiến, trong đó có biện pháp tiến hành kiểm tra sau khi hàng hoá đã đƣợc thông quan.
Cơ sở kiểm tra của biện pháp này là các chứng từ khai hải quan, sổ sách kế toán và các loại giấy tờ khác còn lƣu lại tại cơ quan Hải quan, tại doanh nghiệp và các bên liên quan khác về hàng hoá đã thông quan. Hoạt động này còn đƣợc gọi bằng một thuật ngữ chuyên môn khác là "kiểm tra trên cơ sở kiểm toán". Thuật ngữ “Kiể m tra sau thông quan ” (post clearance audit – PCA) hay còn gọi là “kiểm toán hải quan” hay “kiểm tra trên cơ sở kiểm toán” là một vấn đề mới trong lĩnh vực nghiệp vụ kiểm tra, giám sát hải quan, là một mắt xích trong xâu chuỗi các hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm bắt buộc ngƣời khai hải quan tuân thủ các quy định của pháp luật, KTSTQ là khâu cuối cùng trong chuỗi quy định đó. Kết quả của KTSTQ là tiền đề để xem xét xây dựng các tiêu chí đánh giá ngƣời khai hải quan có chấp hành tốt pháp luật hay không, từ đó phục vụ công tác quản lý của hải quan theo nguyên tắc đánh giá QLRR khi lựa chọn phƣơng pháp kiểm tra hải quan trong quá trình thông quan hàng hoá, làm cơ sở để định hƣớng kiểm tra có trọng điểm, trọng tâm trƣớc khi thông quan.
Các khâu liên hoàn trong công tác kiểm tra gắn kết với nhau một cách logic. Tùy theo đặc điểm hoạt động và 5 z biện pháp quản lý tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia khác nhau dẫn đế n có nhiều quan niệm khác nhau về KTSTQ. Theo công ƣớc Kyoto sửa đổi của Tổ chức Hải Quan thế giới, kiểm tra sau thông quan hay còn gọi là kiểm soát trên cơ sở kiểm toán (audit-based controls) là biện pháp do Hải quan thực hiện nhằm kiểm tra tính chính xác và hợp pháp của việc kê khai hải quan thông qua kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán, hệ thống kinh doanh, số liệu thƣơng mại do các cá nhân có liên quan cất giữ [36]. KTSTQ là quá trình kiểm tra của hải quan dựa trên kiểm toán (audit-based) diễn ra sau sau khi hàng hóa đã đƣợc thông quan tại các cửa khẩu hải quan.
Hoạt động kiểm toán này có thể diễn ra tại trụ sở của tổ chức xuất nhập khẩu, hoặc bất cứ khâu nào trong quá trình thông quan, vì vậy hoạt động này còn gọi là kiểm toán “dựa theo quá trình” hoặc kiểm toán “dựa theo công ty” [37, tr1]. Hoạt động kiểm tra sau thông quan là một biện pháp kiểm soát quan trọng của cơ quan hải quan và các cơ quan quản lý cửa khẩu trong việc kiểm soát theo các tiếp cận hạn chế rủi ro và nhiều nấc bằng cách chuyển từ một trƣờng kiểm soát nghiêm ngặt theo quy trình sang kiểm soát dựa trên thế mạnh của kiểm toán. Trong khi kiểm soát theo quy trình là biện pháp áp dụng với từng giao dịch khi qua các cửa khẩu hải quan, bao gồm kiểm tra vật lý hàng hóa, kiểm tra tính chính xác của giá trị, nguồn gốc xuất xứ và loại hàng hóa, các giấy tờ cấp phép có liên quan .Điều này làm cho quá trình thông quan diễn ra dài và bị hạn chế bởi các biện pháp và đội ngũ nhận viên kiểm soát tại cửa khẩu. Theo Tổ chức Hải quan, việc kiểm soát tại cửa khẩu nhƣ vậy dễ dàng tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm pháp luật của đội ngũ nhân viên hải quan.
Trong khi đó kiểm tra sau thông quan sẽ làm cho việc kiểm tra thông quan chỉ giới hạn ở những hàng hóa cần thiết và tính hợp pháp của hàng hóa (hàng hóa bị cấm hay không [36]. 6 z Ở Việt Nam, theo Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005 của Việt Nam, KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm: Thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ mà chủ hàng, ngƣời đƣợc chủ hàng ủy quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đó khai, nộp, xuất trình với cơ quan Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đó đƣợc thông quan; thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Nhƣ vậy, về mặt pháp lý ở h ầu hết các nƣớc, các tổ chức liên quan đến hải quan đều coi KTSTQ là một khâu nghiệp vụ của cơ quan Hải quan. KTSTQ không phải là một lĩnh vực khoa ho ̣c riêng bi ệt mà là hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học của các ngành khoa học khác nhƣ kiểm toán, xác suất thống kê, QLRR, điề u tra , giám định.
Hoạt động KTSTQ, theo tổ chức Hải quan thế giới đƣơ ̣c thƣ̣c hiê ̣n nhằ m đa ̣t đƣơ ̣c năm mu ̣c tiêu chủ yế u sau đây: - Thứ nhất, đảm bảo việc kê khai hải quan đƣợc thực hiện đúng với các quy định của Hải quan thông qua kiểm tra hệ thống, hồ sơ kế toán và tài sản của tổ chức thực hiện thủ tục hải quan - Thứ hai, kiểm tra giá trị kê khai đã đƣợc xác định và thực hiện đúng các nghĩa vụ tài chính; - Thứ ba, tạo điều kiện cho các lĩnh vực thƣơng mại hợp pháp và đúng quy định phát triển - Thứ tƣ, đảm bảo những hàng hóa thuộc những lĩnh vực có kiểm tra đặc biệt phải đƣợc khai báo chính xác, ví dụ nhƣ những hạn chế, lệnh cấm, giấy phép, quota. - Thứ năm, đảm bảo các điều kiện liên quan đến những thủ tục phê duyệt theo đặc thù đƣợc giám sát, ví dụ thủ tục tiền kiểm dịch quá cảnh, chứng chỉ ƣu đãi, quota, giấy phép, kho bãi, các hoạt động đơn giản hóa thủ tục khác [37, tr6]. 7 z Bên cạnh những mục tiêu trên của KTSTQ, thông qua hoạt động hậu kiểm sẽ hạn chế đƣợc những sai sót, gian lận của các khâu trƣớc, từ đó đảm bảo nguồn thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đƣợc đảm bảo. Bên cạnh đó, KTSTQ hỗ trợ các cơ quan Hải quan khai thác bố trí, sắp xếp nhân lực và phƣơng tiện kiểm tra hiệu quả nhất.
Các bộ phận tham gia vào hoạt động kiểm tra sau thông quan Các chủ thể tiến hành KTSTQ: KTSTQ đƣợc thực hiện thông qua bộ máy tổ chức của cơ quan Hải quan từ cấp trung ƣơng xuống đến địa phƣơng. Đối với Hải quan Việt Nam chủ thể tiến hành hoạt động KTSTQ là Cục KTSTQ trực thuộc Tổng cục Hải quan và các Chi cục KTSTQ trực thuộc các Cục Hải quan tỉnh, thành phố; Khách thể tham gia vào hoạt động KTSTQ là các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động XNK và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hàng hóa XNK nhƣ ngân hàng, bảo hiểm, hãng tàu, vận chuyển, đại lý làm thủ tục hải quan, cảng vụ,.; Đối tƣợng của KTSTQ là hồ sơ hải quan , các chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các chứng từ có liên quan đến hàng hóa XNK đã đƣợc thông quan trong thời gian quy định của pháp luật; Cách thức KTSTQ gồm kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm hoặc kiểm tra theo kế hoạch hoă ̣c kiể m tra cho ̣n mẫu ; kiểm tra tại trụ sở cơ quan Hải quan hoặc kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp; Mối quan hệ giữa các yế u tố t rên đƣơ ̣c thể hiê ̣n khi tiến hành mo ̣i hoạt động KTSTQ cu ̣ thể : Chủ thể kiểm tra tiến hành kiểm tra sự tuân thủ pháp luật Hải quan đối với những hàng hóa đang thuộc đối tƣợng kiểm tra bằ ng cách thức thích hợp , khách thể kiểm tra có trách nhiệm hợp tác với chủ thể kiểm tra để chứng minh sự tuân thủ pháp luật Hải quan trong quá trình thực hiện các hoạt động XNK. Quan hê ̣ giữa kiểm tra sau thông quan với một số hoạt động khác có liên quan 1. Với hoạt động kiểm soát hải quan Công tác kiểm soát đƣợc hiểu là một mặt của công tác nghiệp vụ hải quan có thể đƣợc thực hiện bằng các biện pháp bí mật , điều tra, tuần tra kiểm soát kết hợp vận động quần chúng, phối hợp sử dụng các lực lƣợng và biện pháp trong và ngoài ngành Hải quan để phát hiện, ngăn ngừa, điều tra, xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới.
Nhƣ vâ ̣y, đối tƣợng chính của nghiệp vụ kiểm soát hải quan là đối tƣợng buôn lậu, gian lận thƣơng mại có mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Mặt khác hoạt động nghiệp vụ của kiểm soát hải quan có thể diễn ra trƣớc, trong và sau khi hàng hóa đã đƣợc thông quan còn KTSTQ chỉ thực hiện sau khi hàng hóa đã thông quan.