phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, các danh mục có liên quan, nội dung chính của Luận văn được trình bày trong 04 chương: Chương l: Cơ sở lý luận về sự hài lòng và thủ tục hải quan điện tử. Chương 2: Thực trạng thực hiện thủ tục hải quan điện tử và thiết kế nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Kết quả nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với thủ tục hải quan điện tử tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi. Chương 4: Bình luận kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách.
Tống quan tài liệu nghiên cứu Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành Hải quan đã tích cực cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình nghiệp vụ, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Với mong muốn đề tài được hoàn thiện hơn, tác giả đã tiến hành thu thập các nghiên cứu có liên quan đến đề tài để làm cơ sở, tiền đề đề xuất mô hình nghiên cứu của mình, bao gồm: Nghiên cứu của Mohammed và cộng sự (2010), Công cụ đo lường chat lượng dịch vụ của Chính phú điện tử dựa trên mô hình SERVQUAL của Parasuraman (1985, 1988) dé xây dựng mô hình đo lường chất lượng dịch vụ của Chính phủ điện tử gồm bảy thành phần được đo lường bằng 26 biến quan sát cụ thể như sau: Thiết kế của Website, Mức độ tin cậy, Mức độ an toàn, Khả năng đáp ứng, Hiểu nhu cầu của dân, Thông tin, Mức độ dễ sử dụng. Nguyễn Thị Hồng Lam (2011), Đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với thủ tục hải quan điện tử: Nghiên cứu trường hợp Cục Hải quan Binh Dương, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chi Minh cho thay có năm thành phần chất lượng dịch vụ tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp gồm: Năng lực phục vụ của công chức hải quan, Hệ thống khai báo HQĐT.
Hiểu nhu cầu doanh nghiệp, Mức độ an toàn, Cải tiến phương thức quản lý. Trong đó, nhân tố năng lực phục vụ của công chức hải quan được gom lại bởi 2 nhân tố là: mức độ đáp ứng và mức độ tin cậy. Dương Văn Định (2013), Đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với sue dung dịch vụ hải quan điện tứ tại Cục Hải quan thành pho Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu đề xuất mô hình gồm năm nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng là: Thành phần hệ thống, Thành phần phục vụ (gom lại từ 2 thành phần tin cậy và đáp ứng), Thành phân an toàn, Thành phần cảm thông, Thành phần quản lý. Trong đó, thành phần phục vụ là nhân tố có tác động mạnh nhất, thành phần quản lý là nhân tố tác động yếu nhất. Nguyễn Thị Bích Lê (2017), Nghiên cứu sự hài lòng của người khai hải quan đối với dịch vụ hải quan điện tử tại Cục Hải quan Gia Lai — Kon Tum, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Nghiên cứu đã xác định bảy yếu tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp đối với chất lượng dịch vụ hải quan điện tử là: Độ tin cậy, Hệ thống thông quan tự động, Thông tin, Độ an toàn, Sự đáp ứng, Chi phí và lệ phí.
Trong đó “Hệ thống thông quan tự động” có ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng của doanh nghiệp về dịch vụ hải quan điện tử, yếu tố “Sự đáp ứng” có tác động ảnh hưởng thấp nhất. Mai Thị Cảm Tú và Lữ Lâm (2017), “Đo lường sự hải lòng của doanh nghiệp về chất lượng thủ tục hải quan điện tử: Nghiên cứu thực tế tại Chỉ cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép, Bà Rịa — Vũng Tàu”, Phát triển kinh tế địa phương. 81 đã đưa ra sáu nhân tố tác động đến chất lượng hải quan điện tử tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép, Bà Rịa - Vũng Tàu, đó là: Phương tiện hữu hình, Tính đảm bảo, Độ tin cậy, Tính đáp ứng, Sự đồng cảm và Phương tiện hỗ trợ. Đào Duy Huân và Trần Thị Hiền (2018), “Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng thủ tục hải quan điện tử tại Chỉ cục Hải quan Tây Đô, Thành phố Cần Thơ”, 7qp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế, Trường Đại học Tây Đô.
Kết quả hồi quy cho thấy yếu tố “Sự cảm thông” có sự ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng dịch vụ hải quan điện tử, tiếp theo là yếu tố “Độ tin cậy”, sau đó lần lượt là các yếu tố “Khả năng đáp ứng”, “Chi phí và lệ phí", “Mức độ an toàn”, “Hệ thống khai báo HQĐT-, và cuối cùng là yếu tố “Phương tiện hữu hình”. Hầu hết các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ: chất lượng dịch vụ hải quan điện tử có môi quan hệ tương quan với sự hài lòng của doanh nghiệp. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE SU’ HAI LONG VA THU TUC HAI QUAN DIEN TU 1. CO SO LY LUAN VE SU HAI LONG 1.
Chất lượng dịch vụ Hiện nay, chất lượng dịch vụ được các nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào môi trường nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu. Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi, kỳ vọng của khách hàng (Lewis & Mitchell, 1990; Donnelly & Wisniewski, 1996). Một cách tông quát, Edvardsson, Thomasson, Ovretveit (1994) và Kotler et al. (2005) cho rằng khoảng cách chênh lệch giữa chất lượng dịch vụ cảm nhận và chất lượng kỳ vọng góp phần làm tăng sự thỏa mãn của khách hàng.
Theo quan điểm của Gronroos (1984) cho rằng, chất lượng địch vụ được đánh giá trên hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ còn chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thé nao. Theo Zeithaml (1987) giai thich: Chat lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thê. Đó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được.
Theo Lewis và Booms (1983) phát biểu: “Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất”. Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985, 1988) cho rằng: “Chất lượng 10 dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dich vu”. Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin và Taylor, 1992; Yavas và các cộng sự, 1997; Ahmad và Kamal, 2002).
Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó đã bước đầu làm cho khách hàng hài lòng. Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ a. ắô hình chất lượng kỹ thuật/chức năng của Gronroos (1984) Đề đạt được sự hài lòng của khách hàng, trong công tác quản lý về chất lượng dịch vụ, doanh nghiệp phải vận dụng, kết hợp đồng thời cả chất lượng nhận thức và chất lượng kỳ vọng, Theo Gronroos, chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng việc so sánh giữa giá trị mà khách hàng mong đợi, kỳ vọng trước khi sử dụng dịch vụ và giá trị mà khách hàng thực sự nhận được khi sử dụng dich vu. Gronroos đưa ra ba tiêu chí để đo lường chất lượng dịch vụ: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh.
Trong đó: - Chất lượng kỹ thuật: chính là những giá trị mà khách hàng thực sự nhận được khi sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp. - Chất lượng chức năng: thể hiện cách thức mà nhà cung cấp dịch vụ phân phối, đưa dich vụ đến với khách hàng, người tiêu dùng. - Hình ảnh: đây là tiêu chí rất quan trọng đối với nhà cung cấp dịch vụ và chủ yếu được xây dựng dựa vào 2 thành phần là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Kỷ vọng vẻ Chất lượng địch vụ Dịch vụ nhận được địch vụ cam nhận Các hoạt động marketing truyền thông (quang cáo.
xúc tiền bán) và các yếu tê hên ngoài như truyền thong. tu trong và truyén miéng) Hình ảnh Chất lượng kỳ thuật Chất lượng chức năng Cái gì? Thê nào? Hình 1. Mô hình chất lượng kỹ thuật/chức năng (Nguồn: Gronroos, 1984) b. Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) Parasuraman và cộng sự (1985) được xem là những người đầu tiên đánh giá chất lượng dịch vụ bằng một tập hợp nhiều thang đo đề đo lường các khái niệm thành phần có liên hệ với nhau.
Mô hình này đưa ra phân tích năm khoảng cách chất lượng dịch vụ gồm: - Khoảng cách 1: Khoảng cách giữa những kỳ vọng của khách hàng và cảm nhận của nhà cung cấp dịch vụ về những kỳ vọng đó. Điều cơ bản tạo nên sự khác biệt này là do nhà cung cấp dịch vụ không hiểu thấu đáo các đặc trưng của chất lượng địch vụ cũng như phương thức để chuyển giao dich vu đến khách hang dé thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. - Khoảng cách 2: Khoảng cách giữa nhận thức của nhà cung cấp dịch vụ về kỳ vọng của khách hàng với các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, xuất hiện khi nhà cung cấp gặp các khó khăn trong việc chuyền đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính của chất lượng. Khoảng cách thứ hai phụ thuộc chủ yếu vào năng lực thiết kế sản phẩm.
12 - Khoang cach 3: Khoang cach giita tiéu chuẩn dịch vụ với dịch vụ thực tế được cung cấp đến khách hàng, xuất hiện khi nhân viên chuyển giao dịch vụ cho khách hàng không đúng các tiêu chí đã định. - Khoảng cách 4: Khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ thực tế cung cấp và chất lượng dịch vụ đã hứa với khách hàng. Đó là những hứa hẹn được phóng đại vượt quá khả năng thực hiện của nhà cung cấp dịch vụ. - Khoảng cách Š: Khoảng cách giữa dịch vụ khách hàng thực sự nhận được và mong đợi của khách hàng vé dich vu.