CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1.1 Tổng quan về kiểm tra sau thông quan 1.1 Khái niệm về kiểm tra sau thông quan Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Hội đồng Hợp tác Hải quan (Tổ chức Hải quan thế giới ngày nay, gọi tắt là WCO) đã bắt tay nghiên cứu các biện pháp quản lý hải quan tiên tiến, trong đó có biện pháp tiến hành kiểm tra sau khi hàng hoá đã được thông quan. Cơ sở kiểm tra của biện pháp này là các chứng từ khai hải quan, sổ sách kế toán và các loại giấy tờ khác còn lưu lại tại cơ quan Hải quan, tại doanh nghiệp và các bên liên quan khác về hàng hoá đã thông quan. Hoạt động này còn được gọi bằng một thuật ngữ chuyên môn khác là "kiểm tra trên cơ sở kiểm toán". Thuật ngữ “Kiểm tra sau thông quan ” hay còn gọi là “kiểm toán hải quan” hay “kiểm tra trên cơ sở kiểm toán” là một vấn đề mới trong lĩnh vực nghiệp vụ kiểm tra, giám sát hải quan, là một mắt xích trong xâu chuỗi các hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm bắt buộc người khai hải quan tuân thủ các quy định của pháp luật, KTSTQ là khâu cuối cùng trong chuỗi quy định đó.
Kết quả của KTSTQ là tiền đề để xem xét xây dựng các tiêu chí đánh giá người khai hải quan có chấp hành tốt pháp luật hay không, từ đó phục vụ công tác quản lý của hải quan theo nguyên tắc đánh giá QLRR khi lựa chọn phương pháp kiểm tra hải quan trong quá trình thông quan hàng hoá, làm cơ sở để định hướng kiểm tra có trọng điểm, trọng tâm trước khi thông quan. Các khâu liên hoàn trong công tác kiểm tra gắn kết với nhau một cách logic. Tùy theo đặc điểm hoạt động và biện pháp quản lý tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia khác nhau dẫn đến có nhiều quan niệm khác nhau về KTSTQ. Theo Tổ chức Hải quan Thế giới, KTSTQ là quy trình nghiệp vụ cho phép công chức hải quan kiểm tra tính chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thương mại liên quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác 7 Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội cho cơ quan Hải quan mà hiện tại đang được các đối tượng kiểm tra (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ.
Theo Công ước Kyoto sửa đổi, bổ sung tháng 9/1999, Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp được tiến hành nhằm thoả mãn mục đích của họ trong việc xác định tính chính xác và trung thực của các tờ khai hàng hoá thông qua kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thương mại của các bên liên quan. Theo Hải quan ASEAN, KTSTQ là một biện pháp kiểm soát hải quan có hệ thống mà thấy thoả đáng về độ chính xác và trung thực của việc khai báo hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại của các cá nhân/các Công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế. Theo Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005 của Việt Nam, KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm: Thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ mà chủ hàng, người được chủ hàng ủy quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đó khai, nộp, xuất trình với cơ quan Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đó được thông quan; thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Như vậy, về mặt pháp lý ở hầu hết các nước, các tổ chức liên quan đến hải quan đều coi KTSTQ là một khâu nghiệp vụ của cơ quan Hải quan.
KTSTQ không phải là một lĩnh vực khoa học riêng biệt mà là hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học của các ngành khoa học khác như kiểm toán, xác suất thống kê, QLRR, điều tra, giám định. Hoạt động KTSTQ được thực hiện nhằm đạt được năm mục tiêu chủ yếu sau đây: Một là, Thẩm định tính chính xác, trung thực của các nội dung khai báo về đối tượng quản lý của cơ quan Hải quan, phù hợp với quy định của pháp luật; 8 Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội Hai là, Đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật Hải quan của người khai hải quan; Ba là, Tiến hành kiểm tra một cách có hệ thống các hoạt động gian lận thương mại, bảo đảm áp dụng một cách tốt nhất các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan Hải quan; Bốn là, Tạo thuận lợi cho việc lưu chuyển hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu bảo vệ nguồn thu cho NSNN; Năm là, Khai thác bố trí, sắp xếp nhân lực và phương tiện kiểm tra hải quan hiệu quả nhất.2 Các bộ phận tham gia vào hoạt động kiểm tra sau thông quan Các chủ thể tiến hành KTSTQ: KTSTQ được thực hiện thông qua bộ máy tổ chức của cơ quan Hải quan từ cấp trung ương xuống đến địa phương. Đối với Hải quan Việt Nam chủ thể tiến hành hoạt động KTSTQ là Cục KTSTQ trực thuộc Tổng cục Hải quan và các Chi cục KTSTQ trực thuộc các Cục Hải quan tỉnh, thành phố; Khách thể tham gia vào hoạt động KTSTQ là các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động XNK và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hàng hóa XNK như ngân hàng, bảo hiểm, hãng tàu, vận chuyển, đại lý làm thủ tục hải quan, cảng vụ,.; Đối tượng của KTSTQ là hồ sơ hải quan, các chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các chứng từ có liên quan đến hàng hóa XNK đã được thông quan trong thời gian quy định của pháp luật; Cách thức KTSTQ gồm kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm hoặc kiểm tra theo kế hoạch hoặc kiểm tra chọn mẫu; kiểm tra tại trụ sở cơ quan Hải quan hoặc kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp; Mối quan hệ giữa các yếu tố trên được thể hiện khi tiến hành mọi hoạt động KTSTQ cụ thể: Chủ thể kiểm tra tiến hành kiểm tra sự tuân thủ pháp luật Hải quan đối với những hàng hóa đang thuộc đối tượng kiểm tra bằng cách thức thích hợp, khách thể kiểm tra có trách nhiệm hợp tác với chủ thể kiểm tra để chứng minh sự tuân thủ pháp luật Hải quan trong quá trình thực hiện các hoạt động XNK. 9 Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội 1.3 Quan hệ giữa kiểm tra sau thông quan với một số hoạt động khác có liên quan Trước hết với hoạt động kiểm soát hải quan Công tác kiểm soát được hiểu là một mặt của công tác nghiệp vụ hải quan có thể được thực hiện bằng các biện pháp bí mật, điều tra, tuần tra kiểm soát kết hợp vận động quần chúng, phối hợp sử dụng các lực lượng và biện pháp trong và ngoài ngành Hải quan để phát hiện, ngăn ngừa, điều tra, xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới.
Như vậy, đối tượng chính của nghiệp vụ kiểm soát hải quan là đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại có mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Mặt khác hoạt động nghiệp vụ của kiểm soát hải quan có thể diễn ra trước, trong và sau khi hàng hóa đã được thông quan còn KTSTQ chỉ thực hiện sau khi hàng hóa đã thông quan. Tiếp đến với hoạt động thanh tra chuyên ngành Giữa thanh tra chuyên ngành với KTSTQ đều có những điểm giống nhau: Thứ nhất, thanh tra chuyên ngành và KTSTQ đều có chức năng xác minh và đưa ra ý kiến về đối tượng kiểm tra, thanh tra với mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật hoặc các chế định có liên quan góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; Thứ hai, về đối tượng cụ thể: thanh tra chuyên ngành và KTSTQ đều phải xem xét các hồ sơ liên quan và hoạt động thực tế của khách thể kiểm tra để phát hiện, phân tích, đánh giá tình hình một cách chính xác, khách quan, trung thực, làm rõ đúng sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý sai phạm; Thứ ba, về tính chất, thanh tra chuyên ngành và KTSTQ đều mang thứ bậc hành chính. Tuy nhiên, giữa thanh tra chuyên ngành với KTSTQ có những điểm khác biệt nhất định: 10 Vũ Văn Hiển - Khóa 2010 Khoa Kinh tế & Quản lý – ĐHBK Hà Nội Một là, chủ thể của thanh tra chuyên ngành không đồng nhất với chủ thể của KTSTQ.
Chủ thể của thanh tra chuyên ngành là các bộ, ngành khác nhau. Chủ thể của KTSTQ là cơ quan Hải quan; Hai là, Nội dung thanh tra chuyên ngành thường là những vụ việc phức tạp, có dấu hiệu vi phạm, giải quyết các khiếu nại tố cáo đối với khách thể kiểm tra. KTSTQ có thể được tiến hành khi có dấu hiệu vi phạm hoặc kiểm tra theo kế hoạch hoặc kiểm tra chọn mẫu để kiểm tra, đánh giá sự tuân thủ pháp luật. Cuối cùng với kiểm toán KTSTQ là một hình thức của kiểm toán tuân thủ.
Ở Việt Nam, theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật Kiểm toán 2005, kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà đơn vị được kiểm toán thực hiện. Điều 38 Luật Kiểm toán 2005 cũng quy định rõ nội dung kiểm toán tuân thủ bao gồm kiểm toán tình hình chấp hành Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán, các luật thuế và văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; tình hình chấp hành nội quy, quy chế của đơn vị được kiểm toán. Mục đích của KTSTQ nhằm kiểm tra sự tuân thủ pháp luật Hải quan của người khai hải quan. Do vậy, kiểm toán tính tuân thủ trong KTSTQ được thể hiện qua Hình 1.