Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý trước thông quan Chương 2. Thực trạng công tác quản lý trước thông quan tại Cục Hải quan Thành phố Hà Nội Chương 3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý trước thông quan tại Cục Hải quan Thành phố Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỚC THÔNG QUAN Quản lý trước thông quan là một trong ba giai đoạn của quản lý nhà nước về hải quan. Công tác quản lý trước thông quan muốn có hiệu lực và hiệu quả phải dựa trên cơ sở lý luận về quản lý trước thông quan, các cam kết quốc tế cũng như hệ thống pháp luật của Việt Nam. Để làm tốt công tác quản lý trước, dưới đây tôi trình bày cơ sở về hoạt động phán quyết trước; công tác thu thập xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện xuất nhập cảnh và kinh nghiệm thực hiện quản lý trước thông quan của một số nước trên thế giới và trong khu vực. Những vấn đề cơ bản của quản lý trước thông quan đối với hàng nhập khẩu và mối quan hệ với quản lý trong và sau thông quan 1.
Khái quát về quản lý trước thông quan Theo quy định của pháp luật: “Thông quan hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu là việc hoàn thành các thủ tục hải quan để hàng hóa được nhập khẩu, xuất khẩu hoặc đặt dưới chế độ quản lý nghiệp vụ hải quan khác”. “Kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) là quá trình nhân viên Hải quan kiểm tra tính trung thực, hợp lý và độ tin cậy của các thông tin được chủ hàng đã khai báo với hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ thương mại, hải quan, chứng từ kế toán, ngân hàng của các lô hàng đã thông quan. Những chứng từ này do các chủ thể (cá nhân/tổ chức) có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến thương mại lưu giữ”. Quản lý trong thông quan và quản lý sau thông quan là việc thực hiện các nghiệp vụ hải quan để đảm bảo việc thông quan hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, các nghiệp vụ kiểm tra tính trung thực, hợp lý và độ tin cậy của các thông tin chủ hàng đã khai báo với Hải quan thông qua việc kiểm tra hồ sơ của lô hàng đã thông quan đúng quy định của pháp luật.
“Quản lý trước thông quan là những hoạt động nghiệp vụ hải quan để nắm bắt các thông tin về lô hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu và các chủ hàng hóa nhằm phục vụ cho hoạt động thông quan, kiểm tra sau thông quan và ngăn chặn những lô hàng 7 không đảm bảo tiêu chuẩn nhập khẩu”. Quản lý trước thông quan theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới bao gồm các lĩnh vực sau: - Thực hiện phán quyết trước về mã số, trị giá hải quan và xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; - Xử lý thông tin E-Manifest (xử lý thông tin trước trên tờ lược khai điện tử đối với hàng hóa vận chuyển bằng đường biển”; - Thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan. Đây là những lĩnh vực nghiệp vụ trong quản lý trước thông quan của Hải quan đã được quy định trong các văn kiện của Tổ chức Hải quan Thế giới, các tổ chức quốc tế khác và đặc biệt trong Hiệp định thuận lợi hóa thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới được các nước thành viên ký kết. Trong khuôn khổ luận văn ““Hoàn thiện quản lý hàng hóa nhập khẩu trước thông quan tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội”, do Cục Hải quan thành phố Hà Nội không quản lý cửa khẩu đường biển nên trong luận văn, tôi chỉ trình bày những vấn đề về hoạt động phán quyết trước và thu thập và xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan.
Mối quan hệ giữa quản lý trước, trong và sau thông quan Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự gia tăng của khối lượng công việc và ứng phó với những thay đổi đột biến của kinh tế, chính trị thế giới đang là gánh nặng cho ngành Hải quan. Hải quan vừa phải tìm kiếm các giải pháp tạo thuận lợi thương mại, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trong điều kiện nguồn lực không thay đổi, thậm chí bị thu hẹp. Hoạt động quản lý trước thông quan sẽ cung cấp cho cơ quan Hải quan cơ sở để thực hiện thông quan và kiểm tra sau thông quan. Qua việc thực hiện phán quyết trước và xác định được đối tượng có rủi ro cao, ưu tiên tập trung nguồn lực vào quản lý số đối tượng này, công tác quản lý sẽ không bị dàn trải.
Từ đó giảm bớt áp lực công việc, làm cân bằng giữa tạo thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ quá trình tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu. Có thể nói, việc áp dụng quản lý trước thông quan là một phần không tách rời và cũng là điều kiện cho việc triển khai thực hiện chương trình cải cách, hiện đại hóa Hải quan. 8 Lợi ích của việc quản lý trước thông quan là giảm bớt khối lượng công việc trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, nhờ giảm bớt các thủ tục, giảm tỷ lệ kiểm tra, chỉ tập trung kiểm tra đối với các đối tượng trọng điểm. Như vậy, Hải quan có thể bố trí, sắp xếp nguồn lực phù hợp, hiệu quả đồng thời cải thiện khả năng tuân thủ pháp luật của đối tượng chịu quản lý về Hải quan.
Việc áp dụng quản lý trước trong thông quan, nhất là vấn thu thập thông tin nghiệp vụ làm tốt hạn chế được rất nhiều hàng hóa nhập khẩu ảnh hưởng đến môi trường, đó là những hàng hóa bị cấm nhập khẩu; những hàng hóa có xuất xứ từ những vùng đang có bệnh dịch, những hàng hóa không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nếu thu thập tốt thông tin nghiệp vụ, những hàng hóa này có thể không được dỡ xuống tránh được hàng ngàn container nhập khẩu không có người nhận làm thủ tục hiện nay. Cũng phải nói thêm, việc áp dụng quản lý trước thông quan cần sự hợp tác từ cả Hải quan và doanh nghiệp cũng như sự phối hợp với các Bộ, Ngành. Hải quan thông qua áp dụng quản lý trước thông quan hỗ trợ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tuân thủ các quy định pháp luật trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Về phía doanh nghiệp cần tăng cường năng lực chấp hành pháp luật và hợp tác cung cấp, trao đổi thông tin với cơ quan hải quan để góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, tuân thủ pháp luật hải quan. Như vậy có thể nói, mối quan hệ giữa quản lý trước, trong và sau thông quan là mối quan hệ biện chứng, là một thể thống nhất trong quản lý hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu. Làm tốt khâu quản lý trước thông quan không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn tiền đề để giảm bớt thời gian trong thông quan và tăng độ tuân thủ của doanh nghiệp, thuận lợi cho hoạt động kiểm tra sau thông quan, thúc đẩy thương mại phát triển, đẩy nhanh tiến trình cải cách, hiện đại hóa Hải quan. Nội dung của hoạt động trước thông quan 1.
Phán quyết trước 1. Nội dung cơ bản về hoạt động phán quyết trước a). Khái niệm, bản chất của hoạt động phán quyết trước 9 Khái niệm: “Phán quyết” theo từ điển tiếng Việt là một quyết định có tính pháp lý buộc người khác phải tuân theo. Phán quyết trước là thuật ngữ ghép, chỉ một quyết định đã được định đoạt trước.
Thuật ngữ “Phán quyết trước” (Hải quan các nước trên thế giới sử dụng) hay “Xác định trước” (Hải quan Việt Nam sử dụng) được đề cập trong lĩnh vực hải quan là việc một cơ quan hải quan (hoặc cơ quan có thẩm quyền) đưa ra quyết định trước bằng văn bản đối với một vấn đề cụ thể hoặc nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện về các lĩnh vực phân loại hàng hóa, trị giá hàng hóa và xuất xứ hàng hóa hoặc ưu đãi đối với hàng hóa dự kiến sẽ xuất khẩu, nhập khẩu. Trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, Hải quan thực hiện Phán quyết trước về mã số hàng hóa, xuất xứ hàng hóa và trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trước khi cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan để thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Các nước có quy định khác nhau về phán quyết trước, tuy nhiên những quy định cơ bản của một phán quyết trước xét về bản chất gồm: - Được ban hành theo đề nghị của doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, có nghĩa là doanh nghiệp có nhu cầu; - Về hồ sơ đề nghị phán quyết trước phải đáp ứng đầy đủ các quy định, đồng thời có khung thời gian xác định cho việc xem xét, xử lý hồ sơ; - Phán quyết trước phải có tính ràng buộc pháp lý, phải ban hành trước khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa, dưới dạng văn bản của Cơ quan Hải quan có thẩm quyền; - Phán quyết trước có giá trị trong thời gian nhất định kể từ ngày ban hành. Hải quan chỉ phải ban hành các Phán quyết trước theo yêu cầu của bên có liên quan, với điều kiện cơ quan Hải quan có được tất cả những thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
Lợi ích và vai trò của hoạt động phán quyết trước trong lĩnh vực hải quan Công ước Kyoto sửa đổi (Việt Nam đã ký nghị định thư tham gia từ 2008) cũng như các cam kết quốc tế trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới, Cộng đồng các nước ASEAN và một số Hiệp định thương mại tự do đều khuyến nghị cơ quan Hải 10 quan cho phép doanh nghiệp được áp dụng cơ chế phân loại trước về mã số, về xác định trị giá tính thuế, về xuất xứ hàng hóa trước khi làm thủ tục cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Cơ chế này là chuẩn mực quốc tế về tạo thuận lợi thương mại mang lại cho cả doanh nghiệp và hải quan những lợi ích nhất định. Hoạt động Phán quyết trước được thực hiện thể hiện sự hợp tác và xây dựng niềm tin giữa Hải quan và doanh nghiệp, đóng góp vào việc xây dựng quan hệ đối tác, hợp tác, chia sẻ trách nhiệm và cùng đạt mục tiêu của hai bên là tạo thuận lợi thương mại và tuân thủ pháp luật. Lợi ích từ hỏa động phán quyết trước cho Hải quan bao gồm nâng cao năng suất và hiệu quả quản lý hải quan nhờ đẩy nhanh tốc độ thông quan hàng hóa, phân bổ nguồn lực hợp lý vào các giai đoạn trước, trong và sau thông quan.