MỞ ĐẦU Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có thế mạnh để phát triển nuôi trồng thủy sản, với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt đã tạo điều kiện rất thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Trong những năm gần đây, diện tích và sản lượng thủy sản nước ngọt ở ĐBSCL không ngừng gia tăng. Năm 2001, diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt của toàn vùng khoảng 94.639 ha với sản lượng 338. Đến năm 2008, diện nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở ĐBSCL đã tăng lên khoảng 129.032 ha (tăng 11,5 %/năm) với sản lượng 1.
Trong số các đối tượng nuôi nước ngọt ở đây thì các loài cá da trơn là những đối tượng nuôi chính. Năm 2001, sản lượng cá tra, ba sa của vùng đạt 106.427 tấn, đến năm 2011 tăng lên 1. Tuy nhiên, trong những năm gần đây do giá cá tra có nhiều biến động nên nhiều hộ nông dân ở ĐBSCL đã bị thua lỗ và chuyển sang nuôi một số đối tượng đặc sản khác có giá trị kinh tế cao hơn và dễ tiêu thụ. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên thì việc nghiên cứu tìm ra những đối tượng nuôi mới góp phần đa dạng hóa loài cá nuôi và phát triển bền vững nghề nuôi thủy sản nước ngọt ở khu vực ĐBSCL là một yêu cầu cấp thiết.
Cá có kích thước tương đối lớn, thịt cá béo, có mùi vị thơm ngon, có giá trị thương phẩm cao nhưng sản lượng thấp (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Theo đánh giá của nhiều người dân nuôi cá ở hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp thì cá kết có triển vọng phát triển nuôi, đặc biệt là nuôi trong lồng, bè. Năm 2003, Khoa Thủy Sản, Đại học Cần Thơ phối hợp với Sở Khoa học - công nghệ và Trung tâm giống thủy sản tỉnh Đồng Tháp đã nghiên cứu bước đầu về đặc điểm sinh học và sinh sản nhân tạo cá kết. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cho thấy, cá kết là loài cá ăn động vật với tép và cá nhỏ là hai loại thức ăn chủ yếu; cá đẻ nhiều đợt trong năm và mùa vụ sinh sản của chúng là tháng 5, 6, 7 và tháng 10, 11, 12; hệ số thành thục của cá kết đạt cao nhất là 2,71, với sức sinh sản tương đối là 9.
Cá kết có khả năng thành thục trong ao với chế độ nuôi vỗ phù hợp bằng thức ăn cá tạp với khẩu phần ăn 3% khối lượng thân/ngày. Kết quả sinh sản bước đầu cho thấy, cá có thể rụng trứng khi được kích thích sinh sản nhân tạo bằng kích thích tố LRHa + Dom với liều lượng là 70 – 80 µg + 3,5 mg/kg cá cái (Dương Nhựt Long và Nguyễn Văn Triều, 2008). Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu về sinh sản và ương nuôi cá kết chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp những 2 thông tin ban đầu. Để có cơ sở xây dựng qui trình sản xuất giống cá kết thì đề tài: “Cơ sở khoa học của việc nuôi vỗ thành thục và kỹ thuật sản xuất giống cá kết (Micronema bleekeri Gunther, 1864)” được thực hiện.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là cung cấp những dẫn liệu khoa học về kỹ thuật nuôi vỗ thành thục sinh dục và sản xuất giống cá kết, cung cấp cơ sở khoa học góp phần xây dựng hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá kết nhằm chủ động cung cấp cá giống đủ số lượng với chất lượng đảm bảo cho người nuôi, đa dạng hóa loài cá nuôi và phát triển bền vũng nghề nuôi thủy sản nước ngọt ĐBSCL. Mục tiêu cụ thể của đề tài: Nghiên cứu nhằm xác định: (1) ảnh hưởng của thức ăn nuôi vỗ đến một số chỉ tiêu thành thục sinh dục (giai đoạn thành thục, hàm Vitellogenin, số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin) của cá kết bố mẹ; (2) loại và liều lượng hormon để kích thích cá sinh sản; (3) đặc điểm dinh dưỡng và thức ăn cho cá kết giai đoạn từ bột lên giống; (4) thức ăn, mật độ ương phù hợp, cũng như nhu cầu đạm trong thức ăn. Để đạt được các mục tiêu trên, luận án đã thực hiện những nội dung nghiên cứu sau: Ảnh hưởng của thức ăn nuôi vỗ đến sự thành thục sinh dục cá kết. Ảnh hưởng của loại và liều lượng hormon đến sinh sản cá kết.
Nghiên cứu kỹ thuật ương cá kết từ cá bột lên cá giống, gồm các nội dung sau: Đặc điểm dinh dưỡng cá kết giai đoạn cá bột lên hương. Ương cá kết bằng thức ăn tự nhiên sống. Ương cá kết bằng trùn chỉ ở mật độ khác nhau. Xác định thời điểm cá kết sử dụng hiệu quả thức ăn tự chế biến.
Ương cá kết bằng thức ăn viên ở các mật độ khác nhau. Xác định nhu cầu đạm trong thức ăn của cá kết giai đoạn giống. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Về mặt khoa học, nghiên cứu này cung cấp những số liệu khoa học về ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sự thành thục sinh dục cá kết, thể hiện qua các số liệu về biến động đường kính trứng, hệ số thành thục, sức sinh sản và các chỉ tiêu huyết học của cá kết trong quá trình nuôi vỗ. Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu ứng dụng về khả năng kích thích sinh sản cá kết bằng các loại kích thích tố và kỹ thuật ương cá kết từ cá bột lên cá giống.
3 Kết quả mới của đề tài: Lần đầu tiên xác định được: Cá kết được nuôi vỗ trong ao bằng tép tạp nước ngọt sẽ thành thục sinh dục vào tháng 5, 6 với hệ số thành thục (3,8 ± 0,08%) ở cá cái và sức sinh sản tương đối (110 ± 9,1 trứng/g cá cái) cao hơn các nghiệm thức cho ăn bằng tép + cá tạp nước ngọt và 100% thức ăn công nghiệp (29,5% đạm). Trong quá trình nuôi vỗ thì hàm lượng Vitellogenin (Vg) trong huyết tương cá kết cái thay đổi tỷ lệ thuận với giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của cá. Hàm lượng Vg tăng nhanh nhất khi tuyến sinh dục của cá kết chuyển từ giai đoạn III sang giai đoạn IV và có sự tương quan chặt chẽ giữa hàm lượng Vg với sự phát triển đường kính trứng theo thời gian. Số lượng hồng cầu và hàm lượng hemoglobin trong máu cá kết biến động không lớn trong suốt thời gian nuôi vỗ.
Kích thích sinh sản cá kết bằng não thùy với liều lượng 3,5 mg/kg cá cái; LRHa + Dom với liều lượng 70 µg + 3,5 mg/kg cá cái; Ovaprim với liều lượng 0,3 ml/kg cá cái cho tỷ lệ cá đẻ, sức sinh sản, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao. Trong khi đó, kích thích cá kết bằng kích dục tố HCG ở liều 4.000 UI/kg cá cái thì 100% cá kết không rụng trứng. Cá kết bắt đầu ăn thức ăn ngoài lúc 02 ngày tuổi. Từ 2 - 5 ngày tuổi cá ăn luân trùng và ấu trùng giáp xác chân chèo, từ ngày thứ 06 đến ngày thứ 30 cá ăn giáp xác râu ngành (Cladocera) và giáp xác chân chèo (Copepoda).
Cá kết không có sự lựa chọn thức ăn thực vật phù du và nguyên sinh động vật. Ương cá kết bằng trùn chỉ ở mật độ 3,5 con/lít đạt kết quả cao về tốc độ tăng trưởng (20,2 ± 0,25 mg/ngày) và tỷ lệ sống (88,9 ± 3,2%). Cá kết có thể sử dụng thức ăn chế biến tốt vào ngày tuổi thứ 7. Ương cá kết bằng thức ăn viên có hàm lượng đạm 36% ở mật độ 3,5 con/L trong 60 ngày đạt kết quả cao về tỷ lệ sống (81,2 ± 3,5%) và tăng trưởng (25,9 ± 0,25 mg/ngày).
Nhu cầu đạm của cá kết cỡ 269 ± 28,9 mg là 43,2%. Kết quả luận án sẽ góp phần vào việc hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất giống cá kết ở ĐBSCL nói riêng và Việt Nam nói chung. 4 SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. N/c ảnh hƣởng của thức ăn đến Loại thức ăn nuôi vỗ phù hợp cho sự sự thành thục sinh dục thành thục cá kết (cá kết thành thục) 2.
N/c ảnh hƣởng của loại Loại và liều lượng KTT kích thích và liều lƣợng KTT đến sinh sản sinh sản đạt hiệu quả cao (cá bột) Thời điểm bắt đầu ăn ngoài và loại thức 3. N/c đặc điểm dinh dƣỡng cá kết ăn được cá kết lựa chọn trong giai đoạn cá bột lên hƣơng giai đoạn đầu 4. N/c ảnh hƣởng của thức ăn tự nhiên sống đến sinh trƣởng và tỷ lệ sống cá kết. Loại thức ăn tự nhiên sống và mật độ để ương cá đến giai đoạn 30 ngày tuổi 5.
N/c ƣơng cá kết từ bột lên giống bằng thức ăn tự nhiên sống ở mật độ khác nhau 6. N/c khả năng sử dụng thức ăn tự chế biến (thời điểm cá sử hiệu quả thức ăn chế biến). Loại thức ăn viên có hàm lượng đạm 8. N/c ƣơng cá kết bằng thức ăn phù hợp và mật độ ương cá kết viên ở mật độ khác nhau phù hợp 7.
N/c xác định nhu cầu đạm trong thức ăn ƣơng cá kết giai đoạn giống. QUI TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT GIỐNG CÁ KẾT 5 CHƢƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số đặc điểm sinh học của cá kết 2. Đặc điểm hình thái và phân loại cá kết Theo Fishbase (2013), cá kết có hệ thống phân loại như sau: Ngành: Chordata Phân ngành: Vertebrata Lớp: Osteichthys Bộ: Siluriformes Họ: Siluridae Giống: Micronema Loài: Micronema bleekeri (Gunther, 1864) Hình 2.1: Hình thái bên ngoài của cá kết (Micronema bleekeri) Cá kết (Micronema bleekeri Gunther, 1864) có đầu rộng dẹp bằng, miệng trên không co duỗi được; rạch miệng gần như nằm ngang, gốc miệng chưa chạm tới bờ trước của mắt; râu rất mảnh, râu hàm trên kéo dài qua khỏi mắt; mắt được che phủ bởi da, nằm lệch về nửa dưới của đầu và gần như cách đều chót mõm với điểm cuối nắp mang; phần trán giữa hai mắt rộng và cong lồi; lỗ mang rộng, màng mang phát triển và không dính liền với eo mang (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
6 Thân cá kết thon dài, dẹp bên. Đường bên hoàn toàn, bắt đầu từ mép trên của lỗ mang và chấm dứt ở điểm giữa gốc vi đuôi. Cá kết không có vi lưng, cơ gốc vi ngực phát triển; gai vi ngực cứng nhọn; gốc vi hậu môn rất dài và không dính liền với vi đuôi; vi bụng nhỏ ngắn, vi đuôi chẻ hai, rãnh chẻ rất sâu (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Cá có màu trắng hồng lấp lánh, phần sau của lưng có màu sậm, bụng có màu trắng, các vi có màu hồng nhạt, mút vi hậu môn, vi đuôi có màu đen (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).