ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay bên cạnh việc đầu tư về công nghệ phát triển những đối tượng cá bản địa thì cũng cần nhập nội những đối tượng cá mới để phát triển nuôi trồng thủy sản. Vì vậy, một số loài cá được di nhập, thuần hóa để thúc đẩy tăng trưởng về sản phẩm trong nước. Những đối tượng nhập nội thường là những đối tượng có giá kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu về thực phẩm thủy sản trên thị trường như: cá tầm, cá hồi…và gần đây đối tượng được người nuôi rất quan tâm đó là cá nheo Mỹ Ictalurus punctatus (Rafinesque, 1818). Đây là loài có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ protein cao, mỡ và cholesterol thấp, thành phần khoáng và vitamin phong phú (Nettleton et al.
Một trong những mấu chốt quan trong quyết định đến sự phát triển nuôi bền vững của một loài là làm chủ được công nghệ sản xuất giống, vì vậy các nhà khoa học đã tập trung vào nghiên cứu kích thích sinh sản nhân tạo và từng bước nâng cao được hiệu quả sản xuất giống loài cá này. Ở miền Bắc Việt Nam, cá nheo Mỹ đã được nuôi ở một số tỉnh và ngày càng được mở rộng quy mô và diện tích nuôi. Số liệu thống kê cho thấy tại tỉnh Hải Dương hiện có hơn 700 lồng nuôi cá nheo Mỹ cho sản lượng hàng năm trên 3.000 tấn (Chi cục Thủy sản Hải Dương, 2018); Tỉnh Bắc Ninh năm 2018 có trên 120 lồng nuôi cá nheo Mỹ, đạt sản lượng toàn tỉnh trên 400 tấn cá nheo Mỹ (Chi cục Thủy sản Bắc Ninh, 2018); Tỉnh Phú Thọ, có hơn 200 lồng nuôi cá nheo Mỹ, sản lượng đạt 1.000 tấn cá nheo Mỹ năm 2018 (Chi cục Thủy sản Phú Thọ, 2018); Tỉnh Sơn La, có trên 300 lồng nuôi cá nheo Mỹ cho sản lượng 1. Tuy nhiên, hiện nay việc sản xuất nguồn con giống cung ứng cho người nuôi còn rất hạn chế và giá thành cao, giống chủ yếu được nhập từ Trung Quốc khó kiểm soát dịch bệnh.
Trong những năm gần đây, phát triển thủy sản được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Phú Thọ xác định là một trong những chương trình nông nghiệp trọng điểm của tỉnh. Phong trào nuôi trồng thủy sản ngày một phát triển mạnh mẽ, đặc biệt phát triển cá lồng trên sông và hồ chứa. Đến năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã phát triển được 1.500 lồng nuôi cá trên sông Lô, sông Đà, sông Bứa và các hồ chứa. Trong đó, tập trung chủ yếu trên sông Đà, sông Lô chảy qua địa bàn tỉnh.
Sản lượng hàng năm đạt trên 4 ngàn tấn cá thương phẩm các loại đã góp 1 c phần làm thay đổi tập quán sản xuất của người dân, nâng cao năng suất, sản lượng thủy sản trên địa bàn tỉnh. Hiện tại, khi giá các đối tượng cá truyền thống như rô phi, mè, trôi. ngày càng bị mất giá, giá cả bấp bênh. Do vậy, việc chủ động sản xuất được con giống cá nheo Mỹ góp phần giúp bà con nông dân giảm chi phí sản xuất, nâng cao được hiệu quả kinh tế, đưa đối tượng nuôi mới vào cơ cấu giống nuôi trên địa bàn tỉnh là hết sức cần thiết.
Chính vì vậy, tôi tiến hành lựa chọn đề tài:“Nghiên cứu sinh sản cá nheo Mỹtại Phú Thọ”.Thành công của đề tài góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Sinh sản được cá nheo Mỹ tại Phú Thọ góp phần chuyển giao cho các cơ sở sản xuất giống trên địa bàn tỉnh. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu nuôi vỗ cá nheo Mỹ bằng các loại thức ăn khác nhau; - Nghiên cứu kỹ thuật kích thích sinh sản cá nheo Mỹ bằng các loại KDT với liều lượng khác nhau; - Theo dõi các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi vỗ cá nheo Mỹ gồm: nhiệt độ, pH, DO. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC Ở CÁ NHEO MỸ 2. Hệ thống phân loại Theo mô tả của Ross, 2001, cá nheo Mỹ thuộc: Lớp: Actinopterygii Bộ cá Nheo: Siluriformes Họ: Ictaluridae Giống: Ictalurus Loài: Ictalurus punctatus (Rafinesque, 1818) Tên tiếng Anh: Channel Catfish Hình 2. Cá nheo Mỹ Ictalurus punctatus (Rafinesque, 1818) 2. Phân bố Cá nheo Mỹ là loài cá bản địa của châu Mỹ, phân bố phía nam Canada và phía đông Bắc Mỹ cũng như phía bắc của Mexico.
Theo Glodek (1980); Starnes và Etnier (1993), cá nheo Mỹ phân bố rộng trên các hồ tự nhiên, hồ chứa, các dòng suối nước sạch nơi có hàm lượng ôxy hòa tan cao, có thể tìm thấy trên các suối có tốc dòng chảy chậm và nước phù sa, thường thấy cá cuối nguồn của các đập nước, cũng có thể tìm thấy cá trong các vùng nước lợ. Ngày nay, cá nheo Mỹ đã có mặt ở trên 35 quốc gia trên thế giới (FAO, 2006). Cá nheo Mỹ được giới thiệu đầu tiên tại Puerto Rico năm 1938, tiếp đó cá được đưa tới cộng hòa Dominican năm 1954, Bỉ và Anh năm 1968, Nigeria năm 1970, Hàn Quốc năm 1972, Philippines năm 1974, Trung Quốc năm 1984, Thái Lan năm 1989 (Eli, 2005). Đặc điểm hình thái Vây hậu môn có 24-27 tia vây, vây lưng có 6-7 tia vây, vây ngực có 7-9 tia vây, vây bụng có 8-9 tia vây, có 13-18 lược mang.
Cá nheo Mỹ có thân thon dài, không vẩy, tia vây trên các vây là tia vây mềm ngoại trừ tia vây trên vây lưng và ngực. Vây mỡ nằm giữa vây lưng và vây đuôi không có chứa tia vây. Mắt cá nhỏ, miệng nằm phía trước có 4 đôi râu quanh miệng. Đuôi cá hình lưỡi mác, vây hậu môn hình vành khuyên.
Màu sắc: Cá nhỏ thường có màu ánh bạc và màu trắng hồng. Viền ngoài của vây lưng, vây mỡ, vây hậu môn và vây đuôi thường có màu đen. Cá giống khi đạt kích cỡ 6-7 cm bắt đầu xuất hiện chấm đen trên thân, các đốm này từ từ biến mất khi cá có tuổi đời lớn hơn 3 tuổi. Cá hương râu không màu, khi cá trưởng thành râu chuyển màu sáng bạc.
Cá lớn có màu xanh đen dọc theo lưng, cá cái có màu sáng hơn cá đực. Đầu cá đực trưởng thành có màu xanh đen. Đặc điểm sinh trưởng Trong sinh sản nhân tạo và nuôi cá nheo Mỹ, vòng đời của cá có thể chia làm các giai đoạn khác nhau: Cá bột, cá hương, cá giống, cá thịt và cá bố mẹ (Hunter và Dupree, 1984). Cá bột mới nở có chiều dài là 5,5 - 6,0 mm.
Cá hương nuôi từ cá bột sau 40 ngày tuổi có thể đạt 50 mm. Sau 120 ngày tuổi cá có thể đạt chiều dài 230 mm. Để hoàn thành một chu kỳ nuôi cá nheo Mỹ từ cá bột đến giai đoạn cá thương phẩm cần 18 tháng (Zimba et al. Trong tự nhiên, sinh trưởng của cá nheo Mỹ phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng trong mỗi thủy vực.
Số liệu theo dõi sinh trưởng về chiều dài trung bình năm đầu của cá nheo Mỹ là 72 - 102 mm, các năm tiếp theo trong 7 năm lần lượt là 132 - 189 mm, 203 - 272 mm, 266 - 341 mm, 304 - 370 mm, 353 mm và 425 mm (Carlander, 1969). Appelget và Smith (1950) thống kê chiều dài xương sống của cá từ năm thứ nhất tới năm thứ 12 lần lượt là 75 mm, 161 mm, 231 mm, 299 mm, 361 mm, 423 mm, 488 mm, 536 mm, 620 mm, 676 mm, 658 mm và 709 mm. Cá nheo Mỹ có thể sống đến 40 năm tuổi, khối lượng 26,3 kg và chiều dài 1300 mm (Glodek, 1980). Đặc điểm dinh dưỡng Cá nheo Mỹ là loài ăn tạp.
Trong các sông lớn ở Mỹ, thành phần thức ăn chủ yếu của cá là ấu trùng côn trùng, giáp xác, cá và các động vật thân mềm. Trong các hồ chứa cá ăn động vật phù du, các chất lắng đọng và cá cỡ nhỏ. Trên 4 c các dòng suối vào mùa lũ cá ăn giun đất, thậm chí chuột (Robinette và Knight, 1981). Ấu trùng cá nheo Mỹ ăn động vật phù du, cá bột của các loài cá khác, hoạt động bắt mồi chủ yếu vào buổi sáng và buổi chiều.
Ấu trùng các loại động vật thủy sinh là nguồn thức ăn chủ yếu của cá nheo Mỹ có kích cỡ nhỏ hơn 102 mm. Cá cỡ 279 - 381 mm ăn cùng loại thức ăn trên nhưng thành phần thức ăn có thêm cả cá và giáp xác cỡ lớn. Từ giai đoạn cá đạt kích cỡ 3-4 cm/con có thể luyện cho cá ăn thức ăn công nghiệp. Đặc điểm sinh sản Phân biệt giới tính Phương pháp phổ biến để phân biệt giới tính cá là lấy mẫu tuyến sinh dục của cá đã biệt hoá giới tính và quan sát.
Cá nheo Mỹ có thể xác định giới tính ở khoảng 4 tháng tuổi, tuy nhiên giới tính của cá nheo Mỹ có thể phân biệt bằng quan sát hình thái ngoài của cá ở một số giai đoạn nhất định. Vào mùa vụ sinh sản, cá đực có lỗ sinh dục nhú dài cách xa lỗ hậu môn, độ dài phụ thuộc vào tuổi của cá. Cá cái lỗ sinh dục thường là khe nhỏ phẳng hình ô van liền kề sau lỗ hậu môn và thường có màu đỏ. Có thể phân biệt bằng cách quan sát phần cơ trên lưng cá.
Phần cơ trên đầu và lưng của cá đực thường có 3 vùng phình rộng từ đầu xuống bụng, trong khi đó cá cái có 2 phần phân biệt giữa phần đầu và bụng. Về màu sắc của cá đực chuyển từ màu xanh xám sang màu đen. Cá cái có màu xám và màu nâu vàng. Phân biệt giới tính bằng hình thái ngoài của cá (Morris, 1993) Tuổi và cỡ cá thành thục Theo Carlander (1969), điều kiện sinh sản nhân tạo và nuôi trong ao cá nheo Mỹ thành thục sinh dục ở tuổi thứ 2 khi đạt chiều dài khoảng 350- 359 mm với cá cái và 330-339 mm với cá đực.
Thông thường cá thành thục khi đạt chiều 5 c dài 305 mm; tỷ lệ sinh sản thành công với cá 2 năm tuổi thường thấp và với cá 3 năm tuổi khoảng 12,7%. Theo Steeby và Wagner (2005), khi tiến hành sinh sản cá nheo Mỹ nên chọn cá bố mẹ có tuổi từ 3 tuổi trở lên, tuổi tốt nhất cho cá bố mẹ là 5 tuổi. Kenneth (2009) cho rằng thành thục của cá nheo Mỹ có thể thay đổi theo chu kỳ mùa và sự thay đổi về chu kỳ ánh sáng, cá nheo Mỹ 22 tháng tuổi có thể kích thích thành thục sinh dục. Sức sinh sản Cá nheo Mỹ có sức sinh sản tương đối lớn 10.000 trứng/cá cái tùy theo khối lượng cá.
Thông thường cá đẻ từ 6.000 trứng/kg khối lượng cơ thể. Cá cái có khối lượng khoảng 0,45-1,81 kg thường có khoảng 8.800 trứng/kg khối lượng.