Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và bối cảnh nghiên cứu
Tỉnh Quảng Nam thuộc vùng Duyên hải miền Trung, có bờ biển dài trên 125 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 40.000 km², tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành khai thác hải sản. Vùng ven biển của tỉnh sở hữu gần 30.000 ha mặt nước các loại (ngọt, lợ, mặn), trong đó có 10.000 ha bãi triều. Ranh giới vùng biển ven bờ (VBVB) của tỉnh được xác định trên cơ sở Nghị định số 33/2010/NĐ-CP và Nghị định số 26/2019/NĐ-CP của Chính phủ.
Thực trạng quản lý và khai thác tại VBVB tỉnh Quảng Nam thời gian qua bộc lộ nhiều bất cập, dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng của nguồn lợi thủy sản (NLTS). Nguyên nhân chính bao gồm:
- Áp lực khai thác quá mức từ đội tàu ven bờ với quy mô chiếm trên 92% tổng số tàu thuyền toàn tỉnh trong khi ngư trường ven bờ có diện tích hạn chế.
- Sự xâm nhập của các tàu lưới kéo từ các tỉnh lân cận và các tàu có công suất từ 20 CV trở lên hoạt động trái tuyến tại vùng ven bờ.
- Hoạt động của nghề lưới kéo diễn ra quanh năm với kích thước mắt lưới nhỏ, tính chọn lọc thấp, gây tổn hại hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, làm mất bãi đẻ và nơi cư trú của sinh vật thủy sinh non.
- Năng suất khai thác bình quân trên một đơn vị công suất giảm sút liên tục: từ 0,63 tấn/CV (năm 1997) xuống 0,54 tấn/CV (năm 2010) và còn 0,33 tấn/CV (năm 2016).
Khoảng trống nghiên cứu
Các công trình trước đây tại khu vực miền Trung và Quảng Nam chủ yếu tập trung vào cải tiến nghề khai thác xa bờ (như câu mực xà, lưới rê khơi) hoặc khảo sát cục bộ tại một số địa bàn hẹp (như huyện Núi Thành). Cho đến thời điểm đề tài thực hiện, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, đồng bộ về hiệu quả hoạt động khai thác gắn liền với công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên toàn bộ vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam để làm căn cứ khoa học cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và phân vùng quản lý.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong VBVB tỉnh Quảng Nam nhằm hướng tới phát triển bền vững ngành khai thác hải sản, phục vụ phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội địa phương.
- Mục tiêu cụ thể:
- Điều tra số liệu thực trạng hoạt động khai thác tại VBVB tỉnh Quảng Nam (số lượng, cỡ loại tàu thuyền, ngư cụ, lao động).
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động khai thác nhằm làm rõ mức độ suy giảm hiệu quả khai thác của từng nghề.
- Điều tra số liệu thực trạng hoạt động công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản của địa phương tại VBVB tỉnh Quảng Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản nhằm xác định mức độ suy giảm hiệu quả của công tác này.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong VBVB tỉnh Quảng Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động khai thác và công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020 (kết hợp chuỗi số liệu thống kê bổ trợ từ năm 2014 đến 2019).
- Phạm vi không gian: Vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam được xác lập theo Nghị định 33/2010/NĐ-CP và Quyết định số 2180/QĐ-UBND ngày 11/7/2014 của UBND tỉnh Quảng Nam:
- Phía Đông: Giới hạn bởi tuyến bờ theo quy định tại Nghị định 33/2010/NĐ-CP.
- Phía Bắc: Đường nối từ điểm Qna-Đna01 (15°58’02” N, 108°17’18” E - tiếp giáp TP. Đà Nẵng) cắt vuông góc với tuyến bờ tại điểm Qna-Đna02 (16°05’12” N, 108°25’51” E).
- Phía Tây: Giới hạn bởi đường bờ biển tỉnh Quảng Nam.
- Phía Nam: Đường nối từ điểm tiếp giáp Quảng Ngãi Qna-QNga01 (15°23’44” N, 108°44’05” E) qua Qna-QNg02 (15°28’40” N, 108°46’24” E) cắt vuông góc tuyến bờ tại Qna-QNg03 (15°33’56” N, 108°57’06” E).
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Cập nhật cơ sở dữ liệu về hiện trạng khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ cho nghề cá Việt Nam; bổ sung luận cứ khoa học về phương pháp quản lý cường lực khai thác và mô hình tổ chức bảo vệ nguồn lợi vùng ven bờ.
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp luận cứ phục vụ cơ quan quản lý nghề cá tỉnh Quảng Nam quy hoạch đội tàu, sắp xếp cơ cấu ngành nghề khai thác phù hợp với trữ lượng cho phép; đồng thời hỗ trợ xây dựng cơ chế, chính sách và đề án bảo tồn nguồn lợi thủy sản địa phương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
-
Nghiên cứu về quản lý cường lực khai thác quy mô nhỏ:
- Robert Pomeroy (2011) trong chuyên đề "Quản lý cường lực khai thác ở nghề cá quy mô nhỏ" thuộc công trình nghiên cứu thể chế nghề cá cho các nước đang phát triển đã chỉ rõ các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế và sinh kế làm gia tăng tình trạng quá tải cường lực. Tác giả áp dụng các kỹ thuật định tính (Delphi, đánh giá nhanh cộng đồng) và định lượng (phương pháp đỉnh tới đỉnh - peak to peak, hàm sản xuất biên, phân tích bao dữ liệu) để đo lường năng lực khai thác, từ đó khẳng định việc quản lý cường lực đòi hỏi phương pháp tiếp cận tích hợp gắn liền với sinh kế cộng đồng.
- Huiguo Yu và Yunjun Yu (2008) phân tích chính sách quản lý cường lực tại Trung Quốc thông qua hai nhóm công cụ: Hệ thống điều chỉnh động cơ (ITQs, thuế tài nguyên, quyền sử dụng lãnh thổ TURFs) và Hệ thống ngăn cản động cơ (mua lại và phá hủy tàu, hạn chế giấy phép, kiểm soát sản lượng). Công trình chỉ ra tác động của chính sách "tăng trưởng không" (1999) chuyển sang chính sách "tăng trưởng âm" (năm 2000 giảm 1,35% sản lượng, năm 2002 giảm 2,1%) cùng chương trình phá hủy 30.390 tàu cá trong giai đoạn 2003–2010 với kinh phí 270 triệu Nhân dân tệ để giảm công suất máy từ 1.631 kW xuống 11.968 kW và chuyển đổi sinh kế cho 200.000 ngư dân.
- Hsiang-Wen Huang và Ching-Ta Chuang (2009) tổng kết kinh nghiệm cắt giảm cường lực tại Đài Loan giai đoạn 1991–2008, sử dụng ngân sách khoảng 350 triệu USD để phá hủy 30% tàu câu vàng xa bờ và 18% tàu cá quy mô nhỏ, nhấn mạnh khó khăn trong việc phân bổ ngân sách và giải quyết việc làm cho ngư dân ven bờ.
-
Nghiên cứu về bảo vệ nguồn lợi và ứng dụng rạn nhân tạo:
- Tokriska (2009) khảo sát nghề cá vịnh Thái Lan, đánh giá hiệu quả của lệnh cấm nghề lưới kéo, te, xiệp trong phạm vi 3 km ven bờ và thí điểm đồng quản lý nghề cá.
- Hunter và cộng sự (2009) phân tích vai trò của chà và rạn nhân tạo tại Nhật Bản; từ năm 1976 đến 2000 Nhật Bản đầu tư gần 12.000 tỷ Yên xây dựng 6.443 đơn vị rạn nhân tạo với thể tích 53.000 m³, giúp tăng sản lượng khai thác tôm thẻ chân trắng từ 150 kg/ha lên 200 kg/ha và ngăn chặn hoạt động của tàu lưới kéo.
- Francisco Leitao và cộng sự (2007) tại Bồ Đào Nha chứng minh việc thả 174 bộ rạn nhân tạo trên diện tích 12,2 km² ở độ sâu 16–37 m đã cải thiện chuỗi dinh dưỡng và gia tăng sinh khối của loài cá Tráp trắng (Diplodus sargus).
- Ahmad Ali và cộng sự (2011) tổng kết kỹ thuật thả rạn nhân tạo bằng bê tông dạng hình chuông đục lỗ tại các nước Đông Nam Á từ sau năm 1995 nhằm tái tạo môi trường sống thủy sinh.
Các hướng nghiên cứu trong nước
-
Nghiên cứu về cường lực và khai thác hợp lý:
- Phan Trọng Huyến và cộng sự (2016) xác lập nội hàm khai thác hợp lý về sản lượng (tổng sản lượng, cơ cấu loài, kích thước, thời gian, không gian) và về cường lực (mật độ tàu thuyền, chủng loại ngư cụ).
- Tô Văn Phương (2016) nghiên cứu vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011–2014, sử dụng mô hình Schaefer xác định năng suất khai thác trung bình giảm từ 78,68 kg/ngày/tàu (2011) xuống 43,99 kg/ngày/tàu (2014), tương đương mức giảm 44%; đồng thời chỉ ra cường lực thực tế của 6 nghề (lưới rê, lưới kéo, câu, mành, lặn, lưới vây) năm 2014 là 871 tàu, vượt xa mức hợp lý.
- Nguyễn Thị Hoa Hồng (2018) áp dụng mô hình Schaefer tính toán sản lượng bền vững tối đa (MSY) và cường lực tối đa cho vùng ven biển Cửa Lò – Diễn Châu (Nghệ An).
- Nguyễn Phi Toàn (2017) xác định cơ cấu và số lượng tàu thuyền khai thác hợp lý tại vùng biển vịnh Bắc Bộ.
- Dự án Danida/FSPS II phối hợp với CIEM và ĐH Copenhagen (2010) chỉ ra năng suất khai thác biển của Việt Nam giảm từ 0,9 tấn/CV (1991) xuống 0,3 tấn/CV (2005).
- Đề án Quy hoạch phát triển thủy sản Quảng Nam đến năm 2020, định hướng 2030 (Quyết định 2896/QĐ-UBND năm 2016) đánh giá việc không đạt các chỉ tiêu cắt giảm tàu ven bờ (năm 2015 tàu ven bờ vẫn duy trì mức tăng 2,2%/năm, công suất đạt 222.000 CV so với mục tiêu khống chế 100.000 CV).
-
Nghiên cứu cải tiến ngư cụ và tái tạo nguồn lợi:
- Trần Đức Phú (2010–2011) tại Ninh Thuận nghiên cứu cải tiến 4 kiểu lồng bẫy (trụ tròn, chữ nhật, bán nguyệt, vỉ ghẹ); kết quả thử nghiệm cho thấy lồng cải tiến kích thước mắt lưới $2a = 80$ mm giảm tỷ lệ ghẹ non xuống dưới 15%, năng suất cao gấp 1,64 lần và hiệu quả kinh tế cao gấp 9,8 lần so với lồng truyền thống.
- Trần Văn Vinh (2011) ứng dụng mô hình Schaefer và Fox tại đầm Thị Nại (Bình Định) để phân vùng 1.763 ha mặt nước và xây dựng quy chế đồng quản lý cho 9 xã, phường.
- Vũ Kế Nghiệp (2017) xác định MSY và giải pháp quản lý nguồn lợi tại vịnh Vân Phong (Khánh Hòa).
- Nguyễn Trọng Lương (2013–2015) thử nghiệm mô hình chà – rạn nhân tạo tại vùng biển Quảng Nam; kết quả làm tăng số lượng loài từ 45 lên 73 loài, mật độ sinh vật tăng gấp 6,7 lần, năng suất nghề câu tăng 1,4 lần và nghề lưới rê tăng 1,44 lần.
| Nhóm hướng nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu và năm |
Địa bàn / Đối tượng |
Kết quả và phát hiện chính |
| Quản lý cường lực quốc tế |
Robert Pomeroy (2011) Huiguo Yu & Yunjun Yu (2008) Hsiang-Wen Huang (2009) |
Nghề cá quy mô nhỏ Trung Quốc Đài Loan |
Ứng dụng chính sách "tăng trưởng âm", mua lại tàu, kiểm soát công suất; khẳng định tính phức tạp của an sinh xã hội khi cắt giảm tàu nhỏ. |
| Bảo vệ và thả rạn quốc tế |
Hunter và cs. (2009) Francisco Leitao (2007) Ahmad Ali (2011) |
Nhật Bản Bồ Đào Nha Đông Nam Á |
Rạn nhân tạo mở rộng nơi cư trú, tăng sinh khối quần thể cá, tạo vật cản ngăn chặn nghề lưới kéo ven bờ. |
| Khai thác hợp lý trong nước |
Tô Văn Phương (2016) Nguyễn Thị Hoa Hồng (2018) Nguyễn Phi Toàn (2017) |
Núi Thành (Quảng Nam) Nghệ An Vịnh Bắc Bộ |
Sử dụng mô hình Schaefer tính toán MSY và xác định tình trạng vượt ngưỡng cường lực cho phép ở vùng ven bờ. |
| Ngư cụ và rạn nhân tạo trong nước |
Trần Đức Phú (2011) Nguyễn Trọng Lương (2015) Trần Văn Vinh (2011) |
Ninh Thuận Quảng Nam Đầm Thị Nại (Bình Định) |
Cải tiến lồng bẫy chọn lọc cao ($2a=80$ mm); mô hình chà - rạn tăng 1,4–1,45 lần năng suất nghề câu và lưới rê; xây dựng mô hình đồng quản lý. |
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án kế thừa số liệu điều tra nguồn lợi của Viện Nghiên cứu Hải sản (2016–2017) và các thử nghiệm ngư cụ/chà rạn trước đó để giải quyết khoảng trống: thiết lập quy trình điều tra 5 bước xác định chính xác số lượng tàu cá thực tế hoạt động tại VBVB tỉnh Quảng Nam; lượng hóa mức độ suy giảm của từng nghề khai thác; và xây dựng phương pháp xác định số lượng tàu cần cắt giảm theo thứ tự ưu tiên gắn với điều kiện thực tế địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và công thức tính toán
Luận án áp dụng hướng dẫn chuẩn của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) về ước tính năng suất và sản lượng khai thác thủy sản:
-
Năng suất khai thác trung bình ($CPUE_i$):
$$CPUE_i = \frac{1}{n} \sum_{k=1}^{n} CPUE_{ik} \quad (\text{tấn/ngày/tàu})$$
Trong đó $CPUE_{ik}$ là năng suất của tàu mẫu thứ $k$ thuộc nhóm nghề $i$; $n$ là số mẫu điều tra (FAO quy định tối thiểu 30 mẫu lên cá/tháng/nghề để đạt độ tin cậy 90%).
-
Tổng sản lượng khai thác của nghề thứ $i$ ($C_i$):
$$C_i = F_i \times CPUE_i \times A_i \quad (\text{tấn})$$
Trong đó:
- $F_i$: Số lượng tàu hoạt động thực tế của nghề $i$ (tàu).
- $A_i$: Số ngày hoạt động khai thác tiềm năng trong tháng ($A_i = AD_i - A_{0i}$, với $AD_i$ là số ngày trong tháng, $A_{0i}$ là số ngày nghỉ do chu kỳ trăng $B$ hoặc thời tiết xấu/nghỉ lễ $C$).
- Hệ số hoạt động của tàu cá ($BAC$) xác định theo tỷ lệ tàu mẫu hoạt động vào ngày điều tra:
$$BAC = \frac{a_i}{N_i}$$
(với $a_i$ là số tàu mẫu đi biển, $N_i$ là tổng số tàu mẫu chọn điều tra).
-
Tổng sản lượng khai thác toàn vùng biển ($C$):
$$C = \sum_{i=1}^{m} C_i \quad (\text{với } m = 1 \div 6 \text{ nhóm nghề})$$
-
Xác định quy mô mẫu điều tra (Công thức Yamane 1967):
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$
Với $N$ là tổng thể tàu cá thực tế; sai số cho phép $e = 0{,}05$ (5%). Phân bổ mẫu theo từng địa phương ($n_i$), theo nghề ($n_j$), và theo nhóm công suất ($n_k$) thực hiện theo phương pháp chọn mẫu phân tầng tỷ lệ thuận quy mô tổng thể:
$$n_i = N_i \cdot \frac{n}{N}; \quad n_j = N_j \cdot \frac{n_i}{N_i}; \quad n_k = N_k \cdot \frac{n_j}{N_j}$$
-
Nguyên tắc xác định số lượng tàu thuyền cắt giảm:
Dựa trên sản lượng cho phép khai thác $[SL]$ (xác định từ kết quả nghiên cứu nguồn lợi của Viện Nghiên cứu Hải sản năm 2017) và tổng sản lượng thực tế khai thác ($TSL$):
$$\Delta SL = TSL - [SL]$$
Số lượng tàu cắt giảm được tính toán sao cho tổng sản lượng của nhóm tàu bị loại bỏ ($SLCG$) thỏa mãn điều kiện:
$$\Delta SL \le SLCG$$
Thứ tự ưu tiên cắt giảm: (1) Tàu thuyền ngoại tỉnh; (2) Tàu làm nghề cấm và nghề xâm hại nguồn lợi; (3) Tàu có công suất $\ge 20$ CV hoạt động sai tuyến ven bờ.
Quy trình điều tra 5 bước xác định số lượng tàu thực tế
Do đặc thù tàu cá ven bờ có số lượng lớn, biến động liên tục và có sự tham gia của tàu ngoại tỉnh, luận án thiết lập quy trình điều tra gồm 5 bước:
- Bước 1: Lập danh sách tàu thuyền đăng ký chính thức của 6 huyện, thị xã, thành phố ven biển từ Sổ đăng ký tàu cá của Chi cục Thủy sản (nhóm $\ge 20$ CV) và cấp huyện quản lý (nhóm $<20$ CV).
- Bước 2: Lập danh sách sơ bộ các tàu hoạt động tại vùng ven bờ thông qua phiếu điều tra ngư dân và phỏng vấn cán bộ quản lý nghề cá cấp xã/huyện để nhận diện các tàu $\ge 20$ CV hoạt động trái tuyến trong VBVB.
- Bước 3: Rà soát số lượng tàu cá ra/vào vùng biển thông qua sổ nhật ký kiểm soát của các Đồn, Trạm Biên phòng ven bờ tỉnh Quảng Nam (bổ sung tàu ngoại tỉnh).
- Bước 4: Kiểm chứng thực tế thông qua biên bản xử lý vi phạm của Thanh tra Thủy sản và tổ chức 2 đợt khảo sát thực địa bằng tàu thuê trên biển mỗi năm.
- Bước 5: Tổng hợp, xử lý dữ liệu và ban hành danh mục chính thức "Danh sách tàu thuyền thực tế hoạt động khai thác thủy sản trong VBVB".
Phân bổ mẫu nghiên cứu
Tổng số mẫu khảo sát thực tế được xác định cố định cho giai đoạn nghiên cứu là $n = 366$ mẫu (trong đó 303 tàu nhóm $<20$ CV và 63 tàu nhóm $20 \div 49$ CV), phân bổ chi tiết theo Bảng 2.1:
| TT |
Nghề khai thác |
Nhóm công suất |
Núi Thành |
Tam Kỳ |
Thăng Bình |
Duy Xuyên |
Hội An |
Điện Bàn |
Tổng cộng |
| 1 |
Lưới rê |
$<20$ CV $20 \div 49$ CV |
46 8 |
16 1 |
35 3 |
15 4 |
41 4 |
7 0 |
160 20 |
|
Tổng lưới rê |
|
54 |
17 |
38 |
19 |
45 |
7 |
180 |
| 2 |
Nghề câu |
$<20$ CV $20 \div 49$ CV |
16 3 |
2 0 |
6 2 |
6 4 |
16 7 |
3 1 |
49 17 |
|
Tổng nghề câu |
|
19 |
2 |
8 |
10 |
23 |
4 |
66 |
| 3 |
Lưới kéo |
$<20$ CV $20 \div 49$ CV |
3 2 |
0 0 |
0 0 |
0 0 |
3 2 |
0 0 |
6 4 |
|
Tổng lưới kéo |
|
5 |
0 |
0 |
0 |
5 |
0 |
10 |
| 4 |
Lưới vây |
$<20$ CV $20 \div 49$ CV |
0 2 |
0 0 |
0 0 |
0 2 |
0 6 |
0 0 |
0 10 |
|
Tổng lưới vây |
|
2 |
0 |
0 |
2 |
6 |
0 |
10 |
| 5 |
Lồng bẫy |
$<20$ CV $20 \div 49$ CV |
7 1 |
5 0 |
6 0 |
2 1 |
5 0 |
1 1 |
25 3 |
|
Tổng lồng bẫy |
|
8 |
5 |
6 |
3 |
5 |
2 |
28 |
| 6 |
Nghề khác |
$<20$ CV $20 \div 49$ CV |
35 6 |
7 1 |
4 0 |
2 0 |
9 2 |
6 0 |
63 9 |
|
Tổng nghề khác |
|
41 |
8 |
4 |
2 |
11 |
6 |
72 |
| Tổng |
Toàn bộ 6 nghề |
$<20$ CV $20 \div 49$ CV |
107 22 |
30 2 |
50 5 |
25 11 |
74 21 |
17 2 |
303 63 |
|
Tổng cộng chung |
|
129 |
32 |
55 |
36 |
95 |
19 |
366 |
Phương pháp thu thập dữ liệu sinh học và ngư cụ
- Sử dụng thước đo mm đo kích thước hình học vàng lưới và kích thước mắt lưới ($2a$) tại đọt lưới/bộ phận giữ cá.
- Thu thập mẫu sản phẩm trực tiếp tại cảng cá, bến cá và trên biển (10 mẻ lưới/tàu mẫu). Phân loại sản phẩm theo danh mục kích thước khai thác cho phép quy định tại Thông tư số 02/2006/TT-BTS và Thông tư số 62/2008/TT-BNN; phân nhóm cá thể đạt chuẩn và dưới chuẩn kích thước.
- Thu mẫu định lượng "phần bỏ đi" (hải sản non, cá tạp bị loại thải) của mẻ lưới kéo và lờ dây bằng xô thể tích tiêu chuẩn để đếm thành phần cá thể non.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương này tập trung tổng kết các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng nguồn lợi và năng lực nghề cá tỉnh Quảng Nam, đồng thời hệ thống hóa tài liệu khoa học liên quan.
-
Đặc điểm tự nhiên và tiềm năng nguồn lợi sinh vật biển Quảng Nam:
- Tỉnh có diện tích tự nhiên 1,043 triệu ha, 2 thành phố (Tam Kỳ, Hội An), 1 thị xã (Điện Bàn) và 15 huyện.
- Hệ thống thủy văn gồm hai lưu vực chính là sông Thu Bồn và sông Vu Gia; sông Trường Giang kết nối thông ra biển tại Cửa Đại (Hội An) và Cửa An Hòa (Núi Thành), hình thành hai trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá lớn.
- Chế độ thủy triều chuyển tiếp: bán nhật triều không đều ở phía Bắc (độ cao triều cường 0,8–1,2 m) và nhật triều không đều ở phía Nam (độ cao 1,2–2,0 m).
- Nguồn lợi sinh vật phong phú: hơn 500 loài cá, 186 loài động vật đáy, 178 loài động vật phù du, 174 loài thực vật phù du (với 5 ngành tảo gồm 126 loài, ưu thế là tảo Silic), 277 loài san hô tạo rạn (thuộc 40 giống, 17 họ, ưu thế là Acroporidae với 78 loài, Faviidae 65 loài), 8 loài cỏ biển (diện tích tại Núi Thành gần 1.000 ha, riêng vũng An Hòa hơn 600 ha; Cù Lao Chàm 500 ha). Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp, thành lập 2006) có 5.175 ha mặt nước, 311 ha rạn san hô và 500 ha thảm cỏ biển.
-
Biến động đội tàu và cơ cấu nghề giai đoạn 2014–2019:
- Số lượng tàu thuyền toàn tỉnh biến động nhẹ quanh mức 5.581 đến 5.661 chiếc. Nhóm tàu $\ge 400$ CV tăng nhanh với tốc độ 61,6%/năm (từ 141 chiếc năm 2014 lên 575 chiếc năm 2019). Tàu $<20$ CV duy trì số lượng lớn do tác động của chính sách hỗ trợ nhiên liệu theo Quyết định 289/QĐ-TTg từ các năm trước đó.
- Phân bố đội tàu tập trung lớn nhất tại huyện Núi Thành, TP. Hội An và huyện Thăng Bình.
- Về cơ cấu nghề năm 2019: Lưới rê chiếm tỷ trọng cao nhất với 44,3% (2.982 chiếc), nghề câu chiếm 20,6% (1.151 chiếc), lưới vây 8,4% (470 chiếc), lồng bẫy 5,9% (327 chiếc), lưới kéo 3,6% (200 chiếc), chụp mực 1,9% (105 chiếc), tàu dịch vụ hậu cần 59 chiếc và nhóm nghề khác 799 chiếc.
- Sản lượng khai thác toàn tỉnh tăng từ 60.891 tấn (năm 2014) lên 92.164 tấn (năm 2019), tuy nhiên mức tăng này chủ yếu đến từ đội tàu công suất lớn khai thác xa bờ; trong khi năng suất khai thác vùng ven bờ suy giảm nghiêm trọng.
| Năm |
TP. Tam Kỳ |
TP. Hội An |
H. Núi Thành |
H. Duy Xuyên |
H. Thăng Bình |
TX. Điện Bàn |
Tổng số tàu (chiếc) |
| 2014 |
406 |
1.188 |
2.518 |
451 |
773 |
238 |
5.581 |
| 2015 |
427 |
1.254 |
2.548 |
481 |
811 |
256 |
5.777 |
| 2016 |
469 |
1.274 |
2.540 |
529 |
827 |
283 |
5.922 |
| 2017 |
488 |
1.309 |
2.529 |
540 |
848 |
287 |
6.001 |
| 2018 |
495 |
1.316 |
2.111 |
573 |
853 |
294 |
5.672 |
| 2019 |
457 |
1.314 |
2.191 |
585 |
826 |
288 |
5.661 |
| STT |
Nghề khai thác |
$<20$ CV |
$20 \div <50$ CV |
$50 \div <90$ CV |
$90 \div <400$ CV |
$\ge 400$ CV |
Tổng số 2019 (chiếc) |
| 1 |
Lưới kéo |
75 |
82 |
35 |
8 |
0 |
200 |
| 2 |
Lưới vây |
5 |
148 |
46 |
122 |
149 |
470 |
| 3 |
Lưới rê |
2.494 |
291 |
34 |
43 |
120 |
2.982 |
| 4 |
Nghề câu |
590 |
252 |
35 |
75 |
199 |
1.151 |
| 5 |
Chụp mực |
0 |
1 |
2 |
27 |
75 |
105 |
| 6 |
Lồng bẫy |
245 |
45 |
16 |
19 |
2 |
327 |
| 7 |
Nghề khác |
764 |
25 |
8 |
1 |
1 |
799 |
| 8 |
Dịch vụ hậu cần |
0 |
8 |
4 |
18 |
29 |
59 |
| Tổng |
Toàn tỉnh 2019 |
4.168 |
852 |
180 |
313 |
575 |
5.661 |
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương này hoàn thiện khung phương pháp luận phục vụ thu thập và xử lý dữ liệu:
- Trình bày chi tiết công thức tính toán chỉ số sản lượng, năng suất ($CPUE$), hệ số ngày hoạt động ($BAC$) theo chuẩn FAO.
- Xây dựng quy trình 5 bước điều tra số lượng tàu cá thực tế hoạt động trong VBVB nhằm khắc phục khoảng trống sai lệch giữa sổ sách quản lý và thực tế ngư trường.
- Thiết lập bảng cơ cấu phân bổ 366 mẫu điều tra đại diện theo tỷ lệ phân tầng ngẫu nhiên (Yamane) trên 6 địa phương và 6 nhóm nghề.
- Mô tả chi tiết quy trình thu mẫu sinh học mẻ lưới, phương pháp đo đạc mắt lưới $2a$, kỹ thuật phân tích tỷ lệ sản phẩm dưới chuẩn và cá thể non trong lượng bỏ đi theo các Thông tư quản lý chuyên ngành.
- Thiết lập công thức xác định số lượng tàu thuyền cần cắt giảm ($\Delta SL \le SLCG$) dựa trên ngưỡng sản lượng bền vững do Viện Nghiên cứu Hải sản công bố.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và phương pháp
- Hoàn thiện quy trình điều tra 5 bước xác định số lượng tàu thuyền hoạt động thực tế trên vùng biển ven bờ, giải quyết được bài toán chồng chéo giữa dữ liệu đăng ký hành chính và hoạt động thực địa của tàu cá quy mô nhỏ và tàu cá vãng lai.
- Xây dựng phương pháp luận cắt giảm cường lực khai thác dựa trên sự cân bằng giữa sản lượng thực tế và sản lượng cho phép khai thác $[SL]$ của từng vùng sinh thái, gắn với nguyên tắc phân loại thứ tự ưu tiên cắt giảm theo mức độ xâm hại nguồn lợi.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu có độ tin cậy cao về hiện trạng đội tàu, cơ cấu ngư cụ, đặc điểm lao động và mức độ suy giảm năng suất của từng nghề khai thác tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam.
- Đưa ra căn cứ thực chứng về tác hại sinh thái của nghề lưới kéo ven bờ và các nghề có mắt lưới nhỏ đối với các bãi rạn san hô và thảm cỏ biển tại khu vực Núi Thành, Cù Lao Chàm.
Định hướng hệ thống giải pháp đề xuất của luận án
- Giải pháp giảm áp lực khai thác (cắt giảm cường lực):
- Loại bỏ hoàn toàn hoạt động của các tàu khai thác ngoại tỉnh không có giấy phép hoạt động tại vùng ven bờ Quảng Nam.
- Thu hồi giấy phép và cấm tuyệt đối các nghề mang tính hủy diệt (lưới kéo ven bờ, nghề lờ dây, xiệp).
- Kiểm soát và đẩy các tàu có công suất $\ge 20$ CV ra hoạt động đúng vùng lộng và vùng khơi theo quy định pháp luật.
- Giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp và sinh kế:
- Khuyến khích chuyển đổi từ nghề xâm hại sang nghề thân thiện môi trường, có tính chọn lọc cao như nghề lồng bẫy cải tiến (sử dụng mắt lưới $2a \ge 80$ mm), nghề câu, hoặc chuyển dịch sang nuôi biển và dịch vụ du lịch sinh thái nghề cá.
- Giải pháp bảo vệ và phục hồi nơi cư trú:
- Ứng dụng và mở rộng mô hình thả chà – rạn nhân tạo bằng khối bê tông đục lỗ nhằm tạo nơi sinh sản, cư trú cho các loài thủy sản, đồng thời tạo chướng ngại vật cơ học ngăn cản tàu lưới kéo cào quét vùng ven bờ.
- Giải pháp nâng cao năng lực quản lý:
- Kiện toàn bộ máy thanh tra chuyên ngành, tăng cường tần suất tuần tra phối hợp giữa Kiểm ngư, Thanh tra Thủy sản và Bộ đội Biên phòng; triển khai quy chế đồng quản lý nghề cá gắn trách nhiệm với cộng đồng ngư dân địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Do phạm vi đối tượng tàu cá ven bờ phân tán, một số nghề cấm hoạt động lén lút vào ban đêm nên việc thu thập số liệu mẻ lưới đối với nhóm tàu này phụ thuộc vào sự hợp tác của ngư dân và nhật ký kiểm tra xử phạt của cơ quan chức năng.
- Luận án kế thừa chỉ số sản lượng cho phép khai thác $[SL]$ từ đề tài điều tra tổng thể nguồn lợi của Viện Nghiên cứu Hải sản giai đoạn 2016–2017 mà chưa trực tiếp tiến hành khảo sát sinh khối độc lập bằng tàu nghiên cứu chuyên dụng.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá biến động sinh khối và thành phần loài định kỳ tại các khu vực đã lắp đặt rạn nhân tạo và khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm sau khi áp dụng các biện pháp cắt giảm tàu thuyền.
- Nghiên cứu chi tiết hơn về chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản khai thác chọn lọc nhằm gia tăng giá trị thương phẩm, bù đắp sản lượng sụt giảm khi thực hiện cắt giảm cường lực khai thác.
Giá trị tham khảo
Đối tượng sử dụng
- Cơ quan quản lý nhà nước: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam và các tỉnh ven biển Duyên hải miền Trung sử dụng làm cơ sở khoa học để xây dựng quy hoạch phân vùng khai thác, ban hành hạn ngạch giấy phép khai thác ven bờ và đề xuất chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề.
- Viện nghiên cứu và Trường đại học: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Khai thác thủy sản, Quản lý nguồn lợi thủy sản, Sinh thái biển tham khảo phương pháp luận phân bổ mẫu điều tra Yamane, quy trình 5 bước điều tra tàu thực tế và các công thức tính toán sản lượng của FAO.
- Chính quyền cấp cơ sở và Ban quản lý Khu bảo tồn: UBND các huyện ven biển (Núi Thành, Thăng Bình, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Tam Kỳ) và Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm sử dụng tư liệu để xây dựng quy chế đồng quản lý và phương án bảo vệ rạn san hô, thảm cỏ biển.
Các nội dung đáng tham khảo
- Quy trình 5 bước xác định số lượng tàu cá thực tế hoạt động tại vùng ven bờ.
- Ma trận phân bổ 366 mẫu điều tra kết hợp phân tầng địa phương, nghề và nhóm công suất máy.
- Phương pháp luận kết hợp giữa quản lý hạn ngạch cường lực với giải pháp kỹ thuật thả chà - rạn nhân tạo ngăn chặn lưới kéo.
Câu hỏi thường gặp
1. Ranh giới không gian vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam trong luận án được xác định như thế nào?
Ranh giới được xác định dựa trên Nghị định 33/2010/NĐ-CP, Nghị định 26/2019/NĐ-CP và Quyết định số 2180/QĐ-UBND ngày 11/7/2014 của UBND tỉnh Quảng Nam. Phía Đông giới hạn bởi tuyến bờ theo quy định; phía Tây là đường bờ biển; phía Bắc là đường nối tọa độ Qna-Đna01 (15°58’02” N, 108°17’18” E) ra điểm vuông góc tuyến bờ Qna-Đna02 (16°05’12” N, 108°25’51” E); phía Nam là đường nối tọa độ Qna-QNga01 (15°23’44” N, 108°44’05” E) qua Qna-QNg02 (15°28’40” N, 108°46’24” E) ra điểm Qna-QNg03 (15°33’56” N, 108°57’06” E).
2. Sự suy giảm năng suất khai thác tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam được thể hiện qua các con số nào?
Theo các số liệu thống kê trong luận án, năng suất khai thác bình quân tính trên một đơn vị công suất máy tại vùng ven bờ Quảng Nam đã giảm liên tục: từ 0,63 tấn/CV (năm 1997) xuống 0,54 tấn/CV (năm 2010) và chỉ còn 0,33 tấn/CV (năm 2016). Đồng thời, nghiên cứu tại huyện Núi Thành giai đoạn 2011–2014 cho thấy năng suất khai thác trung bình giảm từ 78,68 kg/ngày/tàu xuống 43,99 kg/ngày/tàu, tương đương mức sụt giảm 44%.
3. Cỡ mẫu 366 tàu thuyền điều tra được phân bổ dựa trên cơ sở khoa học nào?
Cỡ mẫu được tính toán theo công thức Yamane (1967) với mức sai số cho phép $e = 5%$. 366 mẫu được phân bổ ngẫu nhiên phân tầng tỷ lệ thuận theo quy mô đội tàu thực tế tại 6 địa phương (Núi Thành 129 mẫu, Tam Kỳ 32 mẫu, Thăng Bình 55 mẫu, Duy Xuyên 36 mẫu, Hội An 95 mẫu, Điện Bàn 19 mẫu) và 6 nhóm nghề (Lưới rê 180, Nghề câu 66, Lưới kéo 10, Lưới vây 10, Lồng bẫy 28, Nghề khác 72), chia thành 2 dải công suất: 303 tàu nhóm $<20$ CV và 63 tàu nhóm $20 \div 49$ CV.
4. Luận án đưa ra thứ tự ưu tiên cắt giảm tàu thuyền khai thác ven bờ như thế nào?
Để đảm bảo tổng sản lượng khai thác thực tế không vượt quá sản lượng cho phép ($\Delta SL \le SLCG$), luận án xác lập thứ tự ưu tiên cắt giảm gồm 3 bước:
- Cắt giảm toàn bộ tàu thuyền của các tỉnh khác xâm phạm hoạt động trái phép trong vùng ven bờ Quảng Nam.
- Cắt giảm và thu hồi giấy phép của các tàu làm nghề cấm, nghề gây hủy diệt nguồn lợi (nghề lưới kéo đáy, lờ dây, nghề dùng kích thước mắt lưới nhỏ).
- Cắt giảm hoặc chuyển vùng hoạt động đối với các tàu có công suất máy $\ge 20$ CV đang hoạt động trái tuyến ven bờ để đưa ra vùng lộng và vùng khơi.
5. Kết quả kế thừa về mô hình chà - rạn nhân tạo và lồng bẫy cải tiến mang lại những chỉ số kỹ thuật gì?
- Mô hình chà – rạn nhân tạo: Kế thừa kết quả từ đề tài của ThS. Nguyễn Trọng Lương (2013–2015), sau khi thả rạn, số lượng loài sinh vật tăng từ 45 lên 73 loài, mật độ tăng gấp 6,7 lần, năng suất đánh bắt của nghề câu tăng gấp 1,4–1,45 lần và nghề lưới rê tăng gấp 1,34–1,44 lần.
- Mô hình lồng bẫy cải tiến: Kế thừa nghiên cứu của TS. Trần Đức Phú (2010–2011), lồng bẫy cải tiến với kích thước mắt lưới $2a = 80$ mm giúp tỷ lệ ghẹ non bị bắt dưới 15%, sản lượng đánh bắt cao gấp 1,64 lần và hiệu quả kinh tế cao gấp 9,8 lần so với lồng bẫy truyền thống.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam" đã giải quyết một vấn đề cấp thiết của ngành thủy sản địa phương thông qua việc kết hợp giữa điều tra thực địa quy mô lớn và khung lý thuyết chuẩn hóa của FAO. Bằng việc xây dựng quy trình 5 bước xác định đội tàu thực tế và phân bổ 366 mẫu khảo sát đại diện, công trình đã làm rõ nguyên nhân suy giảm nguồn lợi do quá tải cường lực khai thác và sự tồn tại của các nghề xâm hại. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, tập trung vào lộ trình cắt giảm tàu thuyền theo thứ tự ưu tiên, chuyển đổi sang ngư cụ chọn lọc, kết hợp ứng dụng chà - rạn nhân tạo và hoàn thiện thể chế quản lý nghề cá ven bờ bền vững.