MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luâ ̣n văn. Trải rộng từ vĩ độ 3 lên đến vĩ độ 26 Bắc và từ kinh độ 100 đến 121 Đông, biển Đông là một biển nửa kín. Ngoài Việt Nam, biển Đông đƣợc bao bọc bởi 8 nƣớc khác là Trung Quốc, Philippines, In-đô-nê-xi-a, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia.
Tiềm năng của vùng biển này là nguồn sống phong phú của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới 7, tr. Vị trí, địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho vùng biển Đông sự đa dạng sinh học cao so với các nƣớc trên thế giới, cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái và nguồn gen. Khác biệt về điều kiện tự nhiên từ Bắc đến Nam nhƣ sự thay đổi nhiệt độ theo vĩ tuyến, mức độ trao đổi môi trƣờng với các vùng xung quanh, hình thái thềm lục địa… đã tạo nên những nét đặc trƣng của các hệ sinh thái giữa các vùng biển ở Việt Nam. Cho đến nay, trong vùng biển này đã phát hiện đƣợc khoảng 11.000 loài sinh vật cƣ trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn 300 loài san hô cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển và 5 loài rùa biển.
Nguồn tài nguyên sinh vật biển quan trọng đã mang đến những ƣu thế cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nƣớc xung quanh. Trữ lƣợng hải sản đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu tấn, cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế cao có thể khai thác đƣợc hàng năm. Trong khu vực, có các nƣớc đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới nhƣ Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, In-đô-nê-xi-a và Philippines. 1 z Biển Đông còn đƣợc coi là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới.
Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mêkông, sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn đƣợc đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tƣơng đối thuận lợi. Tổng trữ lƣợng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lƣợng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lƣợng dự báo của khí khoảng 1. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chƣa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung Việt Nam.
Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trƣờng Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lƣợng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lƣợng dầu khí và đang đƣợc coi là nguồn năng lƣợng thay thế dầu khí trong tƣơng lai gần. Chính tiềm năng dầu khí chƣa đƣợc khai thác đƣợc coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo. Qua nhƣ̃ng phân tić h trên , có thể nói : khai thác biể n là khâu quan trọng trong hoạt động kinh tế biển , là mắt xích không thể thiếu trong hệ thố ng phát triể n kinh tế biể n , thúc đẩy hoạt động xuất khẩu các chế phẩm từ biể n, phát triển kinh tế và gia tăng lợi ích cho ngƣời sản xuất (ngƣời khai thác). Ở các nƣớc đang phát triển , do triǹ h đô ̣ phát triể n của kinh t ế thị trƣờng còn thấ p, quan hê ̣ giƣ̃a hoa ̣t đô ̣ng khai thác biể n và công tác hỗ trợ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác trên biể n còn nhiề u bấ t câ ̣p , ảnh hƣởng không 2 z tố t đế n lơ ̣i ić h của ngƣ dân biể n , hoạt động an ninh biển và của cả nền kinh tế biể n.
Kinh tế biể n là mô ̣t ngành tiề m năng , sƣ̣ phát triển của ngành này sẽ giƣ̃ mô ̣t vai trò đă ̣c biê ̣t quan tro ̣ng trong công cuô ̣c phát triể n kinh tế của đất nƣớc, đảm bảo viê ̣c phát triể n theo hƣớng tăng dầ n tỷ tro ̣ng cho ngành công nghiê ̣p, dịch vụ và tăng công nghiệp hoá , hiê ̣n đa ̣i hoá ngành nông nghiê ̣p. Vì vậy việc đảm bảo hỗ trợ an ninh cho hoạt động khai thác của ngƣ dân trên biể n Viê ̣t Nam là vấn đề mang tính cấp thiết. Trong những năm gầ n đây, Việt Nam đã từng bƣớc hội nhập sâu rô ̣ng vào nền kinh tế quốc tế: trở thành thành viên sáng giá của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia tích cƣ̣c vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), gia nhập diễn đàn kinh tế Châu Á Thái Bình Dƣơng (APEC) và đă ̣c biê ̣t là gia nhập tổ chức th ƣơng mại thế giới WTO năm 2006 và nhiề u diễn đàn kinh tế quốc tế khác…Bên cạnh đó , Viê ̣t Nam cũng đã và đang cùng các quố c gia trong khố i ASEAN tiế n hành đàm phán về Bô ̣ quy tắ c ứng xử biển Đông (COC), tiế n tới tránh xung đô ̣t trong tranh chấ p lañ h hải và khai thác có hiê ̣u quả kinh tế biể n nói chung và biể n Đông nói riêng. Chính trong thời điể m này , Viê ̣t Nam có nhiề u cơ hô ̣i trong việc phát triển kinh tế biể n, tuy nhiên cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức cho ngƣ dân hoa ̣t đô ̣ng trong vùng biể n Viê ̣t Nam.
Với bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu ngày càng lan rộng, thì tâ ̣n du ̣ng nhƣ̃ng nguồ n tài nguyên thiên nhiên sẵn có là một trong những nội lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Viê ̣t Nam phát triể n. Tuy nhiên, trong thời gian gầ n đây ngƣ dân Viê ̣t Nam ngày càng phải đố i mă ̣t với nhiều khó khăn, hạn chế trong khai thác biể n. Nhất là các ngƣ dân gầ n khu vƣ̣c Hoàng Sa , Trƣờng Sa và vùng biể n tiế p giáp với khu vƣ̣c biể n Phi-líp-pin và Thái Lan. Điều này đã ảnh hƣởng không nhỏ đế n sản lƣơ ̣ng , tâm lý khai thác củ a ngƣ dân.
Các ngƣ dân đang đƣợc khuyến khích phát triển, nhƣng thực tế chính sách , công tác hô ̣ ngƣ tƣ̀ phía chính phủ , địa 3 z phƣơng và đă c̣ biê ̣t là hoa ̣t đô ̣ng hỗ trơ ̣ an ninh vẫn còn không it́ những bất cập. Cùng với đó, viê ̣c ƣ́ng du ̣ng KHCN, năng lực quản lý hạn chế , quy mô nhỏ đã làm cho sức khai thác của ngƣ dân bị hạn chế đi nhiều. Với các lý do trên, luâ ̣n văn: “Hỗ trợ an ninh cho hoạt động của ngư dân trên biển Viê ̣t Nam ” được chọn làm luâ ̣n văn nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ. Tình hình nghiên cứu.
Hiê ̣n nay, chƣa có luâ ̣n văn nghiên cứu về hỗ trơ ̣ an ninh cho hoa ̣t đô ̣ng khai thác hải sản của ngƣ dân trên biể n Viê ̣t Nam. Chủ yếu chỉ có các bài viết về chính sách của Chính phủ ; chính sách hỗ trợ an ninh theo các bình diện: thiế t bi ̣an ninh , bảo hiểm, thân tàu hay bảo hiể m tai na ̣n; hỗ trơ ̣ về nhiên liê ̣u và mô ̣t số bin ̀ h diê ̣n khác nhƣ nƣớc ngo ̣t, máy phát điê ̣n cho tàu…Cụ thể là: - Về chin ́ h sách của chiń h phủ , trong bài viết “Cải hoán, đóng mới tàu công suất lớn: Ngư dân gặp khó” của tác giả Mỹ Hoa đã tâ ̣p trung khai thác các điểm yếu trong hỗ trợ đón g mới tàu công suấ t lớn cho ngƣ dân theo Quyết định 48/2010/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ. Nhƣng trên thƣ̣c tế tất cả ngƣ dân chƣa tiếp cận đƣợc nguồn vốn , chỉ là sự góp sức từ phía Quỹ hỗ trợ ngƣ dân tỉnh với 25 tỷ đồng, trong khi nhu cầu của ngƣ dân quá lớn nên Quỹ này cũng chỉ có thể cho ngƣ dân mƣợn vốn trong những trƣờng hợp bị thiệt hại do thiên tai, nhân tai. Số còn lại, hoặc chấp nhận gắn bó với vùng biển gần bờ, hoặc với vay nóng bên ngoài.
- Về đóng mới tàu và hỗ trơ ̣ thiế t bi ̣ an ninh, trong nghiên cƣ́u “Hỗ trợ kém hiệu quả, ngư dân chưa thể tiến xa ra biển” của tác giả Phƣơng Thảo, có đề cập: trong năm 2013, Cơ quan chức năng của các tỉnh thành phố đã hỗ trợ ngƣ dân đóng mới 1.365 tàu có công suất 90CV trở lên với số tiền khoảng 1.300 tỷ đồng; đã lắp đặt 7.000 máy thu trực canh cho ngƣ dân; triển 4 z khai việc hỗ trợ gắn thiết bị (chíp) cho 3.000 tàu cá để thu phát tín hiệu từ vệ tinh. Tính đến cuối tháng 6/2013, cả nƣớc đã lắp đặt đƣợc thiết bị kết nối vệ tinh cho 1. Tuy nhiên, trên thƣ̣c tế , so với tổ ng số 27998 tàu hoạt đô ̣ng xa bờ trong cả nƣớc (tính đến quý 2 năm 2013 của Tổng cục Thống kê), số 1150 chỉ chiếm 4,1% tổ ng số tàu đƣơ ̣c lắ p đă ̣t thiế t bi ̣kế t nố i vê ̣ tinh. Con số này khá khiêm tố n so với yêu cầ u và đề xuất của nghành [1, tr.
- Về cơ sở hâ ̣u cầ n ngoài khơi , bài viết của tác giả Thu Thuỷ cho rằ ng: việc tổ chức triển khai xây dựng các khu neo đậu, tránh trú bão chƣa đồng bộ; đầu tƣ dự án còn dàn trải; chƣa có các tiêu chuẩn ngành về các khu neo đậu tránh trú bão; chƣa nghiên cứu tận dụng tối đa địa hình, điều kiện tự nhiên để xây dựng… Xuấ t phát tƣ̀ t ình hình nghiên cứu trên , tầ m quan tro ̣ng thiế t yế u của công tác hỗ trơ ̣ an ninh cho h oạt động khai thác hải sản , đồ ng thời để khẳ ng đinh ̣ chủ quyề n của Viê ̣t Nam trong bố i cảnh căng thẳ ng trên biể n hiê ̣n nay.