Phần mở đầu Phần 2: Nội dung nghiên cứu: đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở luận về kế toán trách nhiệm Chƣơng 2: Thực trạng kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần Chế biến xuất nhập khẩu Thủy sản Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chƣơng 3: Các giải pháp vận dụng kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần Chế biến xuất nhập khẩu Thủy sản Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Phần 3: Kết luận và kiến nghị. Những đóng góp của luận văn Luận văn tổng kết các cơ sở luận về khái niệm, nội dung, tổ chức vận dụng và các giải pháp cụ thể trong vận dụng KTTN tại một tổ chức kinh doanh và cụ thể là công ty cổ phần Chế biến xuất nhập khẩu Thủy sản Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
6 Chƣơng I CƠ SỞ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 1.1 Tổng quan về kế toán trách nhiệm 1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm KTTN là một trong những nội dung của KTQT. KTTN đƣợc bàn đến đầu tiên tại Mỹ vào khoảng 1950 do nhu cầu về quản lý, nhằm đo lƣờng, kiểm soát và đánh giá thành quả hoạt động của các bộ phận và cá nhân trong một tổ chức. Trong quá trình hình thành và phát triển, KTTN có những khái niệm khác nhau: "Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của tổ chức" ( Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, 2009, trang 200). KTTN bắt đầu với yêu cầu kiểm soát nên ban đầu các hầu hết các tác giả đều mô tả KTTN nhƣ một công cụ để kiểm soát.
Theo Higgins (1952): KTTN là sự phát triển của hệ thống kế toán đƣợc thiết kế để kiểm soát chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến các cá nhân trong tổ chức, ngƣời chịu trách nhiệm kiểm soát. Hệ thống kiểm soát này đƣợc thiết kế cho tất cả các cấp quản lý. KTTN nhƣ một công cụ để kiểm soát hoạt động và chi phí. Sau đó, KTTN còn đƣợc quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhƣ TTTN, sự phân cấp trong quản lý và các chỉ tiêu chi phí, doanh thu, lợi nhuận.
Nhóm tác giả, Clive R. Merchant (1990) có quan niệm về KTTN nhƣ sau: KTTN là sự tổng hợp và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức. KTTN còn đƣợc gọi là kế toán hoạt động hay kế toán khả năng sinh lời. Theo quan điểm này, KTTN đƣợc xem xét từ chi phí, thu nhập và lợi nhuận đến những nhà quản trị riêng biệt, những ngƣời chịu trách nhiệm về việc đƣa ra quyết định liên quan đến chi phí, thu nhập và lợi nhuận thực hiện.
KTTN phù hợp với các tổ chức mà ở đó nhà quản trị cấp cao thực hiện việc trao quyền cho nhà quản trị 7 cấp thấp thuộc thẩm quyền. Khi đó, kết quản quản lý mỗi cấp quản trị đƣợc đánh giá bởi việc họ đã quản lý những công việc đƣợc giao nhƣ thế nào. Ngoài các khía cạnh trên, KTTN còn đƣợc các tác giả David F.G Narayanan, Jacob Cohen, Michele Jurgens đƣa ra khái niệm: KTTN là một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan, về những hoạt động thực tế và lập kế hoạch của những TTTN của một công ty. Trung tâm trách nhiêm là những đơn vị thuộc tổ chức có những nhà quản lý đứng đầu chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị của họ.
Những bộ phận chủ yếu bao gồm: Hệ thống dự toán ngân sách, các báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo biến động, giá chuyển giao nội bộ,. KTTN đi sâu vào việc so sánh việc thực hiện với kế hoạch của các TTTN, xác định giá chuyển giao giữa các trung tâm. Cũng giống quan điểm này Anthony cho rằng KTTN là loại hình kế toán thu nhập và báo cáo cả hai thông tin kế toán kế hoạch và thực tế về các TTTN. KTTN là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (thành viên, con ngƣời) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vi quản lý và phải xác định, đánh giá, báo cáo cho tổ chức để thông qua đó cấp quản lý cao hơn sử dụng thông tin này đánh giá thành quả các bộ phận trong tổ chức.
Nói cách khác, KTTN liên quan đến khái niệm và công cụ mà các kế toán viên sử dụng để đo lƣờng sự thực hiện của các cá nhân và các bộ phận nhằm thúc đẩy những nỗ lực hƣớng về mục tiêu chung của tổ chức (Hilton, 1991). Nhƣ vậy, hiện tại có rất nhiều quan điểm khác nhau về KTTN, sự khác nhau đó không mang tính đối nghịch nhau mà chúng bổ trợ cho nhau. Ta có thể hiểu KTTN một cách tổng quát nhƣ sau: KTTN là một nội dung cơ bản của KTQT và là quá trình thu thập, tập hợp và báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính, đƣợc dùng để kiểm soát các quá trình hoạt động và đánh giá hiệu quả của từng bộ phận trong một tổ chức. KTTN thiết lập những quyền hạn và trách nhiệm cho mỗi bộ phận, cá nhân và một hệ thống chỉ tiêu, công cụ báo cáo kết quả hoạt động của mỗi bộ phận.2 Mục tiêu KTTN Mục tiêu của việc thực hiện KTTN trong một tổ chức là đo lƣờng về kết quả hoạt động của một khu vực hay bộ phận nào đó trong tổ chức thông qua các tiêu chí về doanh thu, chi phí, lợi nhuận hay đầu tƣ, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quả trị ở từng cấp quản trị khác nhau.
Nói cách khác, KTTN là một công cụ đo lƣờng trách nhiệm quản lý của từng trung tâm riêng biệt trong tổ chức. Mục tiêu của KTTN cụ thể: KTTN thực hiện việc phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những TTTN khác nhau để đo lƣờng kết quả hoạt động của chúng. Nhà quản trị có thể hệ thống hóa các công việc của từng trung tâm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá. KTQT giúp nhà quản trị đánh giá và điều chỉnh kế hoạch của các bộ phận cho phù hợp.
Ở cấp quản trị trung gian, KTTN cung cấp thông tin cho việc kiểm soát quản lý và kiểm soát tài chính. Hình thành cơ sở để xác định chất lƣợng hoạt động của các nhà quản lý. Nó là công cụ để đo lƣờng kết quả hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở các cấp khác nhau. Thông qua KTQT có thể phân tích, đánh giá việc thực hiện của các bộ phận đối với các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí và lợi nhuận.
Thông tin KTTN cho biết việc thực hiện kế hoạch của các bộ phận ra sao? Nhận diện các vấn đề còn tồn tại để khắc phục các hạn chế, điều chỉnh các chiến lƣợc mục tiêu cho phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất về mặt chi phí, doanh thu, lợi nhuận và đầu tƣ. Động viên các nhà quản lý hƣớng đến mục tiêu chung của tổ chức. Mục tiêu hoạt động của các TTTN gắn liền với mục tiêu chung của tổ chức. Để đạt đƣợc kết quả tốt nhất, các nhà quản trị cần phải có đầy đủ thông tin để quản lý bộ phận của mình theo đúng hƣớng hoặc điều chỉnh cho phù hợp.
Các thông tin đó đƣợc KTTN cung cấp bao gồm: các thông tin về tài chính, nguyên vật liệu, nhân lực máy móc, thời gian yêu cầu 9 hoàn thành công việc, mức độ tiêu hao các nguồn lực, các nguồn lực đƣợc sử dụng nhƣ thế nào, mức độ hoàn thành bao nhiêu? 1.3 Vai trò của KTTN Cấu trúc của một tổ chức phát triển khi các mục tiêu, trình độ công nghệ, đội ngũ nhân viên thay đổi. Quá trình này thƣờng diễn ra theo hƣớng từ quản lý tập trung sang quản lý phân quyền để có thể phát huy tối đa nguồn lực của doanh nghiệp. Việc phân chia quyền lực và trách nhiệm thành từng phần nhỏ đòi hỏi cần đƣợc xác định và đánh giá đƣợc mức độ đóng góp của mỗi bộ phận trong thành quả chung của cả tổ chức. KTTN giúp chúng ta thực hiện đƣợc công việc này.
Một hệ thống KTTN đƣợc thiết kế tốt cần phải đánh giá đƣợc các TTTN trong một tổ chức. Hệ thống KTTN gắn liền với sự phân cấp quản lý. Nó là công cụ quản lý để khai thác tiềm năng của các thành viên, bộ phận trong doanh nghiệp và đồng thời cũng là công cụ quản lý nhằm đảm bảo mục tiêu, định hƣớng của doanh nghiệp. Cung cấp thông tin cho việc kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý.
KTTN sẽ cung cấp các báo cáo về tình hình hoạt động của các bộ phận. Các báo cáo cũng đƣợc sử dụng để do lƣờng kết hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hƣởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này .Thông qua các báo cáo này nhà quản lý sẽ nắm bắt đƣợc tình hình thực hiện kế hoạch, các vấn đề hạn chế xuất hiện trong tổ chức để có thể có những sự điều chỉnh kịp thời dể đảm bảo mục tiêu của tổ chức đƣợc hoàn thành. Đây chính là nguồn cung cấp thông tin phù hợp nhất để nhà quản trị nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và các nguồn lực khác trong tổ chức. KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận mình theo hƣớng phù hợp với mục tiêu của toàn tổ chức.
Việc cụ thể hóa mục tiêu của tổ chức đến từng TTTN đã giúp gắn liền mục tiêu chung với từng bộ phận và từng cá nhân. KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng bộ phận, cá nhân vào lợi ích chung của tổ chức. 10 Nhiệm vụ của nhà quản trị là xác định mục tiêu, chiến lƣợc kinh doanh, xây dựng kế hoạch, thực hiện mục tiêu đề ra và kiểm soát, tổng kết, đánh giá việc thực hiện mục tiêu. Nhà quản trị muốn hoàn thành nhiệm vụ cần phải có sự hỗ trợ của kế toán thông qua việc cung cấp thông tin để phân tích, tính toán hiệu quả hoạt động của các bộ phận, sản phẩm.
Do đó, KTTN đƣợc thiết một cách đặc biệt đề phù hợp nhất với nhiệm vụ của nhà quản trị. Mô hình kế toán hữu hiệu phải đảm bảo đƣợc các đặc tính nhƣ: có thể ghi nhận, đo lƣờng kết quả hoạt động của từng bộ phận, từng TTTN trong tổ chức. Ngoài việc cung cấp thông tin, nó còn phải giúp nhà quản trị kiểm soát hoạt động của tổ chức.2 Trách nhiệm và trách nhiệm quản lý 1.