MỞ ĐẦU. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU.
NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU. PHẠM VI NGHIÊN CỨU. TỔNG QUAN TÀI LIỆU. ĐẶC ĐIỂM VÒNG ĐỜI CỦA SÁN LÁ SONG CHỦ.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ BƯỚC ĐẦU SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ HÔ (Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898). Vị trí phân loại. Đặc điểm phân bố. Đặc điểm hình thái.
Đặc điểm dinh dưỡng. Đặc điểm sinh trưởng. Tổng quan về ương cá Hô giống. Tổng quan về nuôi cá Hô thịt.
LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU SÁN LÁ SONG CHỦ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Thời gian, địa điểm và tư liệu nghiên cứu. Thời gian nghiên cứu. Địa điểm nghiên cứu. Tư liệu nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu. Điều tra kỹ thuật ương nuôi cá. Phân tích metacercariae trên cá. Phương pháp thu mẫu cá.
Phương pháp phân tích số liệu. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Kỹ thuật ương và nuôi cá Hô. Kỹ thuật ương cá Hô giống.
Kỹ thuật nuôi cá Hô thịt. Thành phần loài metacercariae trên cá dựa vào đặc điểm hình thái. Tỷ lệ nhiễm các loài metacercariae trên cá Hô giống ở đồng bằng sông Cửu Long. Tỷ lệ nhiễm các loài metacercariae trên cá Hô thịt ở đồng bằng sông Cửu Long.
Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm metacercariae trên cá Hô giống và cá Hô thịt. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm metacercariae trên cá Hô giống. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm metacercariae trên cá Hô thịt. 30 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
32 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 34 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long Fish FZT – borne zoonotic trematode parasites kg kilogam g gam MRC Ủy ban sông Mê Kông VAC Vườn – Ao – Chuồng TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh WHO Tổ chức y tế thế giới DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Thời gian, địa điểm thu mẫu cá Hô giống.2 Thời gian, địa điểm thu mẫu cá Hô Thịt.1 Thống kê kĩ thuật ương cá Hô giống của 7 nông hộ.2 Thống kê kĩ thuật nuôi cá Hô thịt của 8 nông hộ.3 Loài metacercariae nhiễm trên cá Hô giống.4 Tỷ lệ nhiễm (TLN) metacercaria trên cá Hô giống (Catlocarpio siamensis) tại các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp và An Giang.5 Tỷ lệ nhiễm (TLN) metacercaria trên cá Hô thịt (Catlocarpio siamensis) tại các tỉnh Tiền Giang và An Giang.6 Kết quả phân tích hồi qui Binary logistic regression để tìm mối liên quan giữa tỉ lệ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trong ao cá Hô giống với kỹ thuật phơi đáy, bón vôi, thuốc trị bệnh, sự hiện diện của chó quanh khu vực ao nuôi.7 Kết quả phân tích hồi qui Binary logistic regression để tìm mối liên quan giữa tỉ lệ nhiễm ấu trùng sán lá song chủ trong ao cá Hô thịt với kỹ thuật bón vôi, phơi đáy, sử dụng thuốc trị bệnh, sự hiện diện của chó quanh ao nuôi.30 DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Vòng đời sán lá song chủ [15].2 Khu vực cá Hô phân bố (sông Vàm Nao, An Giang).3 Cá Hô Catlocarpio siamemsis Boulenger, 1898 [19].1 Ấu trùng metacercariae (Centrocestus formosanus) hiện diện trên cá Hô giống (Catlocarpio siamemsis).2 Ấu trùng metacercariae (Haplochis pumilo) hiện diện trên cá Hô giống (Catlocarpio siamemsis). LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Cá là nguồn cung cấp protein chủ yếu cho con người, đặc biệt là là cư dân các nước Đông Nam Á. Ăn gỏi cá sống hoặc cá nấu chưa chín kỹ là một thói quen phổ biến nơi đây, gây nguy cơ nhiễm sán lá gan và sán lá ruột cho người ăn vì cá là ký chủ trung gian của những loài sán này.
Hàng triệu người bị nhiễm sán lá gan Opisthorchis viverrini ở Thái Lan, Lào và Việt Nam [1]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2004 có hơn 40 triệu người nhiễm sán lá gan, khoảng 70 loài được biết là nhiễm vào con người [2]. Còn theo Keiser và Utzinger, năm 2005 ước tính có khoảng 20 triệu người đã bị nhiễm sán lá gan Clonorchis sinensis và 600 triệu người có nguy cơ bị nhiễm [3]. Đã phát hiện hơn 50 loài sán lá ruột nhiễm trên người trên toàn thế giới, trong đó có 13 loài nhiễm trên người ở Đông Nam Á [4].
Người bị nhiễm sán lá sẽ bị nhiều bệnh, nguy hiểm nhất là ung thư gan [5] và ung thư mật [6]. Sán lá song chủ có nguồn gốc từ động vật thủy sản lây nhiễm cho người là vấn đề toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Những nghiên cứu gần đây ở Việt Nam về sự phân bố và tỷ lệ nhiễm của cá với các loài sán này cho thấy chúng có nhiều trong cá nuôi và cá tự nhiên, trong cơ thể người và vật nuôi [7] - [10]. Sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản hiện nay có thể làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh do ký sinh trùng gây ra, đặc biệt thông qua các vật chủ trung gian như ốc và cá.
Ấu trùng sán lá song chủ (metacercariae) khi ký sinh ở cá, chúng thường làm cho cá sinh trưởng chậm, thậm chí gây chết đồng loạt đặc biệt là cá hương và cá giống [11]. Cá Hô (Catlocarpio siamensis) là loài duy nhất của giống Catlocarpio, có kích thước lớn nhất trong họ cá Chép Cyprinidae. Thịt cá Hô thơm ngon, vị ngọt và dai nên đã bị khai thác đến gần như cạn kiệt và đã được Ủy ban sông Mêkông (MRC) xếp vào nhóm cá có nguy cơ tuyệt chủng cao. Cá Hô tự nhiên có kích thước lớn rất hiếm, trong khoảng thời gian từ 1 - 2 năm thì ngư dân mới đánh bắt được 1 - 2 cá thể có khối lượng từ 40 - 120 kg/con, cá được thương lái thu mua với giá rất cao từ 400.000đ/kg, hiện nay cá Hô thịt trong ao nuôi của các hộ dân cũng được tiêu thụ mạnh, cỡ cá lớn hơn 3kg/con đã xuất hiện tại các nhà hàng ở thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long Xuyên và Hà Nội.
Cá Hô giống khi ương cần áp dụng 2 kỹ thuật nghiêm ngặt và hợp lý. Cá Hô giống là loài cá quý, hiếm, ít cơ sở sinh sản được nên giá cá giống và cá thịt cao. Sau khi ương 8 - 12 tuần, cá giống xuất bán với giá từ 12.000 đồng/con còn cá thịt có giá từ 200. Nhằm tái tạo và phát triển quần đàn, cá Hô đã được thuần dưỡng và sinh sản nhân tạo thành công trong điều kiện trạm trại [12], [13].
Từ năm 2009 đến nay, các trại sản xuất giống đã cung cấp hàng trăm ngàn cá Hô giống ra thị trường. Đã có vài nghiên cứu về bảo tồn và sinh sản nhân tạo cá Hô, nhưng đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về chất lượng cá Hô giống và cá Hô thịt, đặc biệt là nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lá song chủ trên cá Hô giống, vì nếu cá giống bị nhiễm sán lá song chủ sẽ ảnh hưởng đến cá nuôi thịt và đặc biệt là gây tác hại lớn đến sức khỏe con người. Do đó, đề tài “Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm sán lá song chủ giai đoạn metacercariae trên cá Hô giống và thịt (Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898) ở đồng bằng sông Cửu Long” đã được thực hiện. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Đánh giá tỷ lệ nhiễm sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae) trên cá Hô giống và cá Hô thịt ở đồng bằng sông Cửu Long.
- Tìm ra các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ (metacercarie) trên cá Hô giống và thịt, từ đó đưa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm sán lá song chủ trên cá Hô ảnh hưởng đến sức khỏe con người. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU - Đối tượng: Ấu trùng sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae) ký sinh trên cá Hô giống và cá Hô thịt thu được ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. - Vật liệu: Cá Hô (Catlocarpio siamensis) giai đoạn cá giống và cá thịt. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU - Xác định thành phần loài metacercariae trên cá Hô ở giai đoạn cá giống và cá thịt.
- Xác định tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae) trên cá Hô giai đoạn cá giống và cá thịt. - Khảo sát kỹ thuật ương nuôi cá Hô giống bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ ương nuôi dựa trên phiếu điều tra. 3 - Xác định các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tỉ lệ nhiễm sán lá song chủ (giai đoạn metacercariae) trên cá Hô giống và thịt, từ đó đưa ra các giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm sán lá song chủ trên cá Hô thịt ảnh hưởng sức khỏe con người. PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Cá Hô giống ở các tỉnh Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang thu được trong các đợt đi thu mẫu từ tháng 8/2017 – 12/2017 vì mùa sinh sản của cá Hô là bắt đầu vào tháng 4 và trong năm 2017 chỉ cho cá sinh sản một lần.
- Cá Hô thịt ở các tỉnh Tiền Giang và An Giang thu được trong những đợt đi thu mẫu từ tháng 10/2017 – 6/2018 tương ứng với 2 đợt mùa mưa và mùa khô. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM VÒNG ĐỜI CỦA SÁN LÁ SONG CHỦ Sán lá truyền qua cá có vòng đời phức tạp qua nhiều giai đoạn vật chủ khác nhau: vật chủ trung gian thứ nhất (ốc, nhuyễn thể), vật chủ trung gian thứ hai (cá, tôm) và vật chủ cuối cung hay vật chủ chính (người và động vật ăn cá) [14]. Hình 1 là vòng đời của sán lá song chủ, đại diện cho sán lá truyền qua cá.1 Vòng đời sán lá song chủ [15] Sán trưởng thành sản sinh ra trứng (6), trứng thoát ra ngoài theo phân của vật chủ cuối cùng (1), vào môi trường nước.
Ốc (2) – vật chủ trung gian thứ nhất, trong môi trường nước đã nhiễm trứng sán (chủ động hoặc thụ động) trong quá trình lọc mùn bã hữu cơ làm thức ăn. Trong vật chủ ốc phù hợp, trứng sán sẽ phát triển qua một số giai đoạn (2a, 2b, 2c, 2d) để thành ấu trùng cercariae (2d), cercariae được thải ra ngoài môi trường nước khi đã phát triển hoàn thiện, cercariae (3) bơi tự do kết nang trong da hoặc thịt cá nước ngọt - vật chủ trung gian thứ hai. Cercariae rụng đuôi, xâm nhập qua da, di chuyển đến các mô và phát triển thành bào nang metacercariae (4) trong loài vật chủ cá thích hợp. Người ăn cá sống hoặc cá nấu chưa chín có chứa ấu 5 trùng, ấu trùng thoát nang trong tá tràng (5), sán non thoát khỏi nang và phát triển thành sán trưởng thành (6) trong túi mật và đường ống mật trong gan.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ BƯỚC ĐẦU SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ HÔ (Catlocarpio siamensis Boulenger, 1898) 1.