ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước thuộc vùng nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm quanh năm, là nơi thuận lợi cho sự tăng sinh cho ký sinh trùng đường ruột [1]. Ở các nước phát triển, tăng bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi thường liên quan đến bệnh dị ứng, bệnh cơ địa, ung thư và rối loạn sinh tủy xương. Trong khi đó, tại các quốc gia đang phát triển thì thường nguyên do là do giun sán chiếm tỷ lệ nhiễm nhiều hơn so với các tác nhân khác. Các nghiên cứu đã công bố đã cho thấy hiện tượng tăng bạch cầu ái toan thường thấy ở những du khách đến từ vùng nhiệt đới [59].
Tăng bạch cầu ái toan là một vấn đề phổ biến ở các nước đang phát triển chủ yếu gây ra nhiễm bệnh giun sán mãn tính [56], [65]. Theo Lê Thị Cẩm Ly (2011) [21], nghiên cứu “Tìm hiểu một số đặc điểm trong bệnh giun sán phổ biến trên bệnh nhân tăng bạch cầu ái toan” tại Bệnh Viện bệnh Nhiệt Đới thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột trên những bệnh nhân tăng bạch cầu ái toan là 11,5%, đa số là nhiễm sán dải bò Taenia saginata. Năm 2015 tác giả Jiero S [48], đánh giá tỷ lệ nhiễm giun sán truyền qua đất và mối tương quan với số lượng bạch cầu ái toan ở 584 trẻ em tiểu học trong huyện Medan Belawan, tỉnh Bắc Sumatera, Indonesia cho thấy tỷ lệ nhiễm giun lây truyền qua đất ở 382 người tham gia nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 65,4%), trong đó giun đũa Ascaris lumbricoides là 37,1% giun tóc Trichuris trichiura là 21,9%, nhiễm phối hợp là 40,8%. Tỷ lệ nhiễm các loại giun sán gây tăng bạch cầu ái toan là khác nhau tùy từng quần thể và phụ thuộc vào nguồn gốc địa lý, tiền sử phơi nhiễm và các hoạt động của họ liên quan đến phơi nhiễm.Tăng bạch cầu ái toan là một đáp ứng điều hòa miễn dịch tế bào xảy ra ở nhiều quá trình bệnh lý, bao gồm dị ứng, ung thư và nhiễm trùng.
Tăng bạch cầu ái toan là một dấu hiệu về huyết học cần được tìm hiểu và chẩn đoán. Mặc dù rất nhiều căn nguyên có thể gây tăng bạch cầu ái toan, sự. 2 xuất hiện của hiện tượng này ở một người sống ở vùng nhiệt đới gợi ý nhiều đến nhiễm ký sinh trùng [64]. Thực trạng hầu hết tại các bệnh viện, khi xét nghiệm công thức máu thường quy khi nhập viện, bệnh vẫn chưa được các bác sĩ lâm sàng chú ý đến chỉ số bạch cầu ái toan, do đó có thể bỏ sót các trường hợp gia tăng mà chưa được tầm soát nguyên nhân.
Từ thực tế này, câu hỏi nghiên cứu là: 1. Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng đường ruột có chỉ số bạch cầu ái toan gia tăng là bao nhiêu? 2. Bạch cầu ái toan có liên quan gì đến ký sinh trùng đường ruột? Từ đó, đề tài được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu:“Nhiễm ký sinh trùng đường ruột trên bệnh nhân có bạch cầu ái toan tăng”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát: - Nghiên cứu: xác định “Nhiễm ký sinh trùng đường ruột trên bệnh nhân có bạch cầu ái toan tăng” tại Trung tâm Y tế thị xã Thuận An tỉnh Bình Dương từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 3 năm 2020.
Mục tiêu chuyên biệt: 1. Xác định tỷ lệ nhiễm giun, sán đường ruột (giun đũa, giun móc, giun tóc, giun lươn, sán dải Taenia sp.) ở bệnh nhân có bạch cầu ái toan tăng. Xác định các yếu tố liên quan giữa tăng bạch cầu ái toan với nhiễm ký sinh trùng đường ruột. Ý NGHĨA ĐỀ TÀI Giúp cho các bác sĩ lâm sàng trong khu vực này khi đối diện với xét nghiệm công thức máu thường quy, có bạch cầu ái toan gia tăng có thể định hướng chẩn đoán, nghĩ đến bệnh do ký sinh trùng.
Ngoài ra, còn giúp người dân biết cách phòng chống tác nhân phổ biến này. Tăng bạch cầu ái toan trong bệnh ký sinh trùng Các loại đơn bào (trừ Toxoplasma gondii) và vi nấm không làm gia tăng bạch cầu ái toan trong máu. Các giun sán và côn trùng thường là nguyên nhân làm tăng bạch cầu ái toan một cách đáng kể, nhất là giai đoạn xâm nhập mô. Ở các nước Âu Mỹ, ký sinh trùng đứng hàng cuối trong nguyên nhân làm tăng bạch cầu ái toan; trái lại.
Ở Việt Nam và những nước đang phát triển, ký sinh trùng lại là nguyên nhân hàng đầu mà mọi thầy thuốc thực hành cần nghĩ đến. Có rất nhiều trường hợp tăng bạch cầu ái toan không tìm ra nguyên nhân. Cơ chế bệnh sinh của hiện tượng gia tăng bạch cầu ái toan “Nguồn: Trần Xuân Mai, 2010”[22]. Nguyên nhân gia tăng bạch cầu ái toan Bảng 1.
Nguyên nhân gia tăng bạch cầu ái toan Tác nhân nhiễm trùng Không phải tác nhân nhiễm trùng Do ký sinh trùng đường ruột Các bệnh dị ứng: hen suyễn, viêm mũi Ascaris lumbricoides xuất tiết, sốt dị ứng, mề đay mạn tính, Necator americanus/ chàm, bệnh da bóng nước … Ancylostoma duodenale Các bệnh tạo keo: viêm khớp dạng Strogyloides stercoralis thấp, viêm bì cơ, viêm cục quanh mạch Enterobius vermicularis máu, xơ cứng bì. Trichuris trichiura Bệnh lý ác tính: ung thư máu, bệnh Taenia saginata Hodgking, lymphoma, ung thư máu dòng bạch cầu toan tính. Fasciolopsis buski Do thuốc:Ciprofloxacine, Ibuprofen, Clonorchis sinensis và Vancomycin, Gentamycin. Opisthorchis viverrini Một số bệnh lý đường ruôt: bệnh Tác nhân do giun sán trong mô Crohn, bệnh Whipple, viêm đại tràng Fasciola sp.
Không rõ nguyên nhân. Cystycercus cellulosae [22], [30], [39] Gnathostoma sp Angyostrongyllus cantonensis Paragonimus sp. Trichinella spiralis Echinococcus granulosus Schistosoma sp. Vai trò của bạch cầu ái toan Bạch cầu ái toan gia tăng trong trường hợp nhiễm giun sán, côn trùng nhằm:.
5 Thu dọn sạch phức hợp kháng nguyên ký sinh trùng – kháng thể. Vô hiệu hóa histamin bằng men histaminase. Vô hiệu hóa SRS – A bằng men arylsulfatase Phân giải phospholipids do tiểu cầu tiết ra. Như thế, qua các men tiết ra, bạch cầu ái toan đã trung hòa các tác hại do các dưỡng bào gây ra cho những cơ quan đích.
Tăng bạch cầu toan tính trong bệnh ký sinh trùng đường ruột Định nghĩa: được gọi là tăng khi tỷ lệ bạch cầu ái toan lớn hơn 3% hay khi trị số tuyệt đối lớn hơn 300/mm3. Vì trong các bệnh ký sinh trùng hiếm khi có hiện tượng giảm số lượng bạch cầu đi kèm với gia tăng bạch cầu ái toan nên người ta dùng tỷ lệ% là đủ [21], [22]. Giun đũa Thuộc họ Ascarididae, có tên khoa học là Ascaris lumbricoides là một trong những loại giun hình ống ký sinh đường ruột phổ biến nhất ở người, khoảng 1.400 triệu người bị nhiễm trên thế giới (23% dân số thế giới), với 60.000 người chết hàng năm [14], [36]. Hình thể Giun trưởng thành có kích thước lớn nhất ký sinh đường ruột, thân hình ống giống như chiếc đũa, có màu trắng ngà hay hồng nhạt, hai đầu nhọn hình chóp nón.
Miệng có ba môi, trên mỗi bờ môi có một cặp gai cảm giác. Tùy thuộc vào số lượng giun ký sinh mà kích thước giun có thể dài từ 15 – 40 cm. Con cái thường to hơn con đực, đuôi thẳng. Trung bình mỗi ngày một con giun đẻ 200.
Con đực có kích thức nhỏ hơn con cái, đưôi cong về phía bụng, có hai gai giao hợp ở cuối đuôi. Trứng Trứng Ascaris lumbricoides thụ tinh (trứng chắc): hình bầu dục hoặc hơi tròn, kích thước 45 – 70 µm x 35 – 50 µm. Vỏ dày gồm ba lớp, lớp ngoài albumin dày sần sùi bao bọc, có màu vàng nâu. Lớp giữa nhẵn, dày và trong suốt, xếp lớp đồng tâm.
Lớp trong cùng là màng noãn hoàng cấu tạo bởi lipid. Bên trong trứng chứa phôi bào chắc, gọn thành một khối, chưa phân bào lúc trứng mới sinh, chưa có khả năng lây nhiễm; tuy nhiên để quá 12 giờ, có thể thấy trứng với hai hoặc bốn phôi bào. Trứng Ascaris lumbricoides không thụ tinh hay trứng lép: được tìm thấy trong phân do giun đũa cái không thụ tinh với giun đũa đực nhưng vẫn đẻ trứng. trứng có hình bầu dục, hơi dài và hẹp hơn trứng thụ tinh.
Kích thước 85 - 95 µm x 35 – 45 µm. Bên trong trứng không có phôi bào, chứa đầy những hạt tròn kích thước không đều, rất chiết quang. Trứng không phát triển được và sẽ thoái hóa [14]. Trứng Ascaris lumbricoides mất vỏ: là trứng thụ tinh hoặc không thụ tinh bị tróc mất lớp albumin sần sùi bên ngoài, làm vỏ trứng trở nên nhẵn, dễ nhầm lẫn với trứng của loại giun sán khác.
Trứng giun đũa thụ tinh, Trứng giun đũa chưa thụ tinh “Nguồn: Lê Đức Vinh, 2019” [33]. Chu trình phát triển Người Ngoại cảnh Giai đoạn ở người Giun đũa ký sinh ở ruột non của người. Người nhiễm giun đũa là do ăn phải trứng có ấu trùng, ấu trùng thoát khỏi trứng ở tá tràng, đi xuyên qua thành ruột vào mạch máu, theo dòng tuần hoàn lên phổi, ấu trùng phát triển, vào khí quản , thực quản và được nuốt xuống ruột non, trưởng thành. Từ lúc nuốt trứng có ấu trùng cho đến khi giun trưởng thành đẻ trứng mất 2 – 2,5 tháng.
Tuổi thọ trung bình của giun trưởng thành khoảng 12 đến 18 tháng. Trứng có thể tiếp tục được thải ra trong phân đến 7 ngày sau khi con trưởng thành được tống ra. Giai đoạn ở ngoại cảnh Trứng giun đũa ra ngoại cảnh gặp điều kiện thuận lợi: nhiệt độ 24-250C, đất ẩm, bóng râm mát sẽ phát triển thành trứng có ấu trùng sau 15 ngày. Nhiệt độ >360C hoặc < 120C trứng không phát triển được, ở nhiệt độ > 600C, < -120C trứng sẽ bị diệt.
Còn ở nhiệt độ 450C là nhiệt độ trong hố ủ phân thì phải sau 4 tháng trứng mới bị diệt. Các chất sát trùng thông thường: Formol 6%, thuốc tím, cresyl 10%, không diệt được trứng trừ dung dịch iod 10%. Trong hố xí, nước trứng sống được 2 tháng. Nếu người ăn phải trứng có ấu trùng vào cơ thể sẽ phát triển như đã mô tả trong giai đoạn ở người [14].
Chu trình phát triển của giun đũa Ascaris lumbricoides Nguồn: Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ, 2019”[40] 1. Dịch tễ Bệnh giun đũa gặp khắp nơi trên thế giới, nhưng phổ biến ở các xứ nhiệt đới, tỷ lệ cao nhất 25% ở Brazil (Rio de Janeiro). Phía Bắc Sumatra, Indonesia tỷ lệ nhiễm giun đũa 3% [63]. Tại Lào ở tỉnh Khammouane tỷ lệ nhiễm giun đũa là 3,7% [53].
Ở Kenya tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ em năm 2012 là 18,1% [60]. Ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc có tỷ lệ nhiễm cao hơn các tỉnh phía Nam, đặc biệt là nơi trồng hoa màu, sử dụng phân người làm phân bón.