Đặt Vấn Đề Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879) là một trong những đối tượng quan trọng trong nghề nuôi trồng cũng như đánh bắt thủy sản. Theo thống kê của FAO Fishery Statistic (2007), tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới năm 2005 đạt 205.033 tan, đạt giá trị là 896. Trong đó Trung Quốc là nước sản xuất nhiều nhất chiếm tới 52% tong sản lượng thế giới năm 2002. Ở nước ta, Đồng Bằng Sông Cửu Long có tiềm năng rất lớn cho nghề nuôi thủy sản nói chung và tôm càng xanh nói riêng.
Theo thống kê của Bộ Thủy Sản năm 2002, cả nước đạtkhoảng 10.000 tấn, chủ yếu là các tỉnh khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long (Nguyễn Thanh Phương, 2003). Hiện nay nghề nuôi tôm càng xanh cũng đã được phát triển ở miền Bắc như là Thái Bình, Nam Dinh. Theo định hướng của ngành thủy sản thì việc phát triển nuôi tôm càng xanh sẽ tạo điều kiện sử dụng hợp lý diện tích canh tác các địa hình mặt nước ngọt nội địa, đặc biệt là vùng chuyên đôi cơ cấu vật nuôi cây trồng và vùng ngập lũ trong cả nước. Ước tính nghề nuôi tôm càng xanh trong những năm tới phát triển có thể giải quyết việc làm cho 50.
Đạt tổng diện tích 32.000ha, sản lượng 60. Tuy nhiên nghề nuôi tôm càng xanh hiện nay đang gặp trở ngại lớn về nguồn tôm giông, trước đây phần lớn nguôn tôm giống dựa vào khai thác tự nhiên. Tuy nhiên nguôn tôm này ngày càng hiếm, hiện nay phải dựa vào nguồn tôm giống nhân tạo trong nước và nhập khâu từ Trung Quốc. Ở nước ta việc nghiên cứu và sản xuất giống tôm càng xanh đã bắt đầu từ những năm 1980 với quy trình nước trong hở và tuần hoàn (Nguyễn Việt Thắng, 1995).
Tuy nhiên nghề sản xuất giống tôm càng xanh chỉ phát triên mạnh từ năm 1999 khi nhu cầu phát triển ngày càng cao và nhất là thành công trong việc nghiên cứu và phát triển mô hình nước xanh cải tiến mà Đồng bằng sông Cửu Long từ chỉ có một vài trại giống năm 1999, đến năm 2003 đã có 91 trại giống với sản lượng 76 triệu tôm bột một năm (Trần Ngọc Hải va ctv, 2003). Tuy nhiên giá tôm Postlarvae sản xuất nội địa hiện nay còn đắt (90-100 VND/post - sô liệu thu thập tháng 7-2007 tại một số trại giống tôm càng xanh ở Vũng Tàu). Đề cạnh tranh với nguôn tôm giống Trung Quốc và phục vụ nhu cầu người dân trước tiên ta phải hạ giá thành sản xuất, nâng cao chất lượng tôm giống. Thức ăn là một trong những chi phí cao nhất trong sản xuất giống.
tôm càng xanh. Theo Nguyễn Việt Thắng (1993), để sản xuất được một triệu hậuấu trùng tôm càng xanh thì cân 32-35 kg trứng bào xác Artemia và 42,65-75 kg thức ăn chế biến, tương ứng với 32% tông chi phí. Dé giảm được chi phí này trong những năm gan đây có nhiều nghiên cứu về việc thay thé thức ăn tươi sống bằng thức ăn chế biến dé giảm chi phí thức ăn. Nhung theo nghiên cứu của Murai và Andrews (1987), từ giai đoạn I — III au trùng chỉ có thé ăn được ấu trùng Artemia mới nở có kích thước khoảng 500 um.
Khi ương ấu trùng tôm càng xanh chỉ sử dụng thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp mà không sử dụng thêm Artemia cho kết qua tỉ lệ sống rất thấp, lần lượt là 1,7% và 0,2%. Từ đó cho thấy vai trò quan trọng của Artemia trong sản xuất giống tôm càng xanh. Muốn giảm chi phí sản xuất phải có một phương pháp sử dụng cũng như cách quản li Artemia và mật độ ương âu trùng sao cho đạt hiệu qua tốt nhất trong việc giảm thời gian biến thái và tăng tỷ lệ sống trong sản xuất giống tôm càng xanh Artemia thường được thu cho ăn sau khi nở (giai đoạn Instar I) đây là giai đoạn nhiều năng lương và dinh dưỡng nhất. Tuy nhiên sau khi vào môi trường nước Artemia bơi lội nhiều sẽ nhanh chóng chuyên sang các giai đoạn sau như Instar II, III,.
ít đinh dưỡng hơn màu sắc trong hon và đi chuyền linh hoạt hơn. Xuất phat từ ý tưởng đó chúng tôi tiến hành giữ lạnh Artemia dé giữ Artemia ở giai đoạn Instar I trước khi choăn và dung Artemia giữ lạnh này choâu trùng tôm càng xanhăn 6 lần một ngày. Qua đó kiểm tra tác động của việc sử dung Artemia Instar I (có dinh dưỡng cao hơn) trong ương tôm cảng xanh. Từ thực tế trên và được sự phân công của Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Nông Lâm Tp.
Hồ Chí Minh, cùng với sự hướng dẫn của thầy Đinh Thế Nhân chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài : “Anh hưởng của mật độ ấu trùng và tần suất cho ăn Artemia trong ương tôm càng xanh (Macrobrachium rossenbergii, De Man, 1879)”. 1⁄2 Muc Tiêu Dé Tài Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của tần suất cho ăn Artemia (Instar I) và mật độ ấu trùng lên tốc độ tăng trưởng, thời gian biến thái và chất lượng hậuấu trùng tôm càng xanh. Qua đó tìm ra mật độ ươngvà phương pháp choăn thích hợp giúp tăng tỷ lệ sông và rút ngắn chu kì sản xuất giống. Ngoài ra thí nghiệm còn góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật trong sản xuất giống tôm càng xanh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất trong các trại giông tôm càng xanh.
TONG QUAN TÀI LIEU 2.1 Phân loại Theo Holthuis (1980) tôm càng xanh có vi trí phân loại như sau: Ngành: Arthropoda Lớp: Crustacea Lop phụ: Malacostraca Bộ: Decapoda Bộ phụ: Natantia Phân bộ: Caridea Họ: Palaemonidae Phân họ: Palaemoninae Giống: Macrobrachium Loài: M. rosenbergii (De Man, 1879) Day là giống có nhiều loài nhất trong các giống thuộc ho Palaemonidae, khoảng 200 loài. cacinus là những loài có kích thước lớn nhất được biết đến trong họ Palaemonidae. Tôm càng xanh đực có thể đạt chiều dài 320 mm, tôm càng xanh cái có thể đạt chiều dài 250 mm (FAO, 1996).2 Dac Điểm Sinh Học Của Tôm Càng Xanh 2.1 Vùng phân bố Tôm càng xanh có nguồn gốc ở Đông Nam Á sau đó được du nhập vào các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới và trở thành một đối tượng nuôi quan trọng của ngành thủy sản (New và Singholka, 1985).
Đây là một loài tôm dễ nuôi và có giá trị kinh tế cao nên chúng đã được di giống qua nhiều nước trên thé giới. Do đó có những nước không có tôm càng xanh phân bố trong tự nhiên hiện nay cũng đã phát triển mạnh về nuôi tôm càng xanh như Đài Loan, Trung Quốc, Pháp, Mỹ (Nguyễn Việt Thắng, 1995). Tôm càng xanh phân bố trong các thủy vực nước ngọt như sông, hd, ruộng, đầm lầy và một số vùng nước lợ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế gidi, nhưng tập trung nhất là vùng An Độ Dương và Tay Nam Thái Bình Dương (Tran Thanh Phương và ctv, 2003). Ở Việt Nam, tôm càng xanh phân bồ tự nhiên chủ yêu các tỉnh Nam bộ, đặc biệt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Các thủy vực độ mặn từ 18⁄%o hay đôi khi cả 25%o ở một sô vùng biển Nam Trung Bộ vẫn có thé thay tôm xuất hiện. Tùy từng thủy vực với đặc điểm môi trường khác nhau và mùa vụ khác nhau mà tôm càng xanh xuất hiện với kích cỡ, giai đoạn thành thục và mức độ phong phú khác nhau (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003).2 Hình thái Tôm càng xanh có thân tròn khác so với những loài tôm biển, con trưởng thành có màu xanh dương đậm và đặc biệt là đôi cảng (cặp chân ngực thứ2) lớn màu xanh, có nhiều gai dùng dé phòng thủ và bắt môi. Cơ thể tôm cảng xanh có thể được chia làm 2 phần: phần đầu ngực (carapace) và phân bụng. Phía trước phan đầu ngực có chủy phát triển nhọn, 1/2 chủy ngoài cong lên, có từ 11-16 gai trên chủy (2-3 gai sau mắt), phía dưới chủy có từ 10-15 gai.
Chiều dài chủy của tôm cái khi trưởng thành thường bằng hoặc ngắn hơn vỏ đầu ngực, còn chủy tôm đực dài hơn chiều dài vỏ đầu ngực. Trên phần đầu ngực có 2 đôi râu làm chức năng xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân hàm có chức năng giữ và nghiền môi. Phía dưới phần đầu ngực là 5 đôi chân ngực, trong đó có 2 đôi chân mang kẹp, mà đôi chân ngực mang kẹp thứ hai luôn phát triển lớn hơn, nhất là ở tôm đực trưởng thành. Phần bụng tôm càng xanh có 7 đốt.
Năm đốt đầu tiên có mang 5 đôi chân bụng, đôt thứ 6 gọi là đôt đuôi có đôi chân đuôi có chức năng như là bánh lái, đôt cuôi cùng nhọn và cứng được gọi là telson.1: Hình thai ngoài của tôm càng xanh (Foster va Wickins, 1972) Đặc điểm về kích cỡ, hình dạng, màu sắc và các gai trên đôi cảng sẽ phụ thuộc vào giai đoạn phat triển của tôm, nhất là ở tôm đực. Do đó mới có các tên như tôm càng trong, tôm càng cam, tôm càng xanh. Khi lớn trên đôi càng sẽ càng nhiều gai nhọn và xuất hiện lông tơ. Vòng đời của tôm càng xanh Tôm càng xanh sinh trưởng và phát triển ở môi trường nước ngọt, thành thục phát dục, giao vĩ và đẻ trứng ở đó, nhưng khi ôm trứng và âp trứng chúng có xu hướng bơi ra vùng nước lg từ 6 -18%oø.
Vòng đời của chúng khá phức tạp và có thé chia làm 4 giai đoạn : Giai đoan trứng: Khi tôm cái đã thành thục và lột xác, tôm đực sẽ gắn tinh nang vào phan dưới của carapace, giữa các đôi chân ngực và gần lỗ sinh dục cái. Khi con cái đẻ thì trứng được thụ tinh ngay và được tôm cái ấp ở các chân bụng. Khi trứng mới đẻ, có đường kính khoảng 1⁄4 mm, có màu vàng sáng chuyển dan sang màu da cam, đến ngày thứ 12 màu da cam của trứng nhạt dần và ngả màu xám xanh nhạt, từ màu xám xanh nhạt chuyên dần sang xám đậm, trước khi nở khoảng hai, ba ngày thì trứng ngả sang màu xám đen (màu đen là mắt của âu trùng còn năm trong trứng). Nhờ đó dựa vào màu sắc của trứng có thê dự đoán được ngày ấu trùng nở.
Sau khoảng 20 ngày từ khi đẻ thì trứng sẽ nở ra ấu trùng. Giai đoạn âu trùng: Trứng nở ra ấu trùng ở dạng sông trôi nồi trong môi trường nước. Theo Uno và Soo (1969) ấu trùng trải qua 11 lần lột xác tương đương với 11 giai đoạn biến thái khác nhau trong khoảng thời gian 25-30 ngày trước khi biến thái trở thành dạng PL. Mỗi giai đoạn có hình thái và kích thước khác nhau.
Do ấu trùng của tôm càng xanh cần phải sống trong môi trường nước lợ, có độ mặn từ 8-5%o.