Đặt vấn đề Từ thuở xa xưa ông cha ta đã nói “Việt Nam là nước rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu”. Việt Nam có bờ biển dài cùng với diện tích mặt nước lớn đã đưa ngành nuôi trồng chế biến thủy hải sản phất triển mũi nhọn. Bên cạnh phát triển các ngành khai thác chúng ta đặc biệt quan tâm đến công nghệ chế biến để tận dụng triệt để mọi nguồn khai thác và tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế. Một trong số những sản phẩm quen thuộc và phổ biến được khá nhiều người biết đến đó là các sản phẩm lên men.
Có rất nhiều sản phẩm lên men trên thị trường như rượu, tương, dưa củ muối chua… Tuy nhiên phải kể đến ở đây là các sản phẩm lên men từ cá, bởi vì cá hiện nay là nguồn thực phẩm dồi dào, vừa bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, vừa giảm hàm lượng cholesteron hấp thu nhiều từ thịt đỏ (thịt lợn, thịt bò)… Sản phẩm lên men từ cá rất đa dạng, một trong những sản phẩm lên men nổi tiểng từ cá phải kể đến như nước mắm, đã tạo được nhiều thương hiệu trong thị trường trong nước và quốc tế. Một sản phẩm khá phổ biến cũng góp phần vào sự đa dạng đó chính là sản phẩm cá thính. Cá thính được lên men tự nhiên bằng nguyên liệu thính ngô và kinh nghiệm quý báu của người dân đã rút ngắn được thời gian lên men và tăng chất lượng sản phẩm. Cá mè phân bố rất rộng ở nhiều nước trên thế giới và là loại cá có tốc độ sinh trưởng nhanh [4].
Cá mè có đầu khá to, miệng lớn, hàm dưới hơi hếch lên, mắt khá nhỏ. Phần trên lưng có màu sẫm đen và phần còn lại có màu sáng bạc. Cá mè có tốc độ tăng trưởng khá nhanh. Trong điều kiện được nuôi tốt thường sau một năm nuôi cá có thể đạt khối lượng 1 – 1,5 kg/con, sau 2 năm đạt 2 – 3 kg/con và đạt 4 – 5 kg/con sau 3 năm nuôi [2].
Sự tăng trọng của cá mè trắng liên quan chặt chẽ đến từng giai đoạn phát triển. Để có được chất lượng cá và giá trị cảm quan cao nhằm thu hút nhiềungười tiêu dùng hơn đến gần với sản phẩm hấp dẫn này cần phải có những nghiên cứu các 2 yếu tố tác động đến chất lượng cá mè thính. Từ đó tìm ra các điều kiện thích hợp để hoàn thành tốt hơn chất lượng sản phẩm. Chính vì lẽ đó mà chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất cá mè thính”.
Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 1. Mục đích Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình sản xuất cá mè thính nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt và giá trị cảm quan cao 1. Yêu cầu của đề tài Nghiên cứu xác định được tỷ lệ muối thích hợp cho sản phẩm cá mè thính Nghiên cứu lựa chọn được loại thính thích hợp cho sản xuất cá mè thính Nghiên cứu được tỷ lệ bột thính thích hợp cho sản xuất cá mè thính Nghiên cứu được ảnh hưởng của hàm lượng acid acetic bổ sung đến khả năng lên men của sản phẩm cá mè thính Nghiên cứu được ảnh hưởng của các chế độ bảo quản đến sản phẩm cá mè thính. Đánh giá được chất lượng sản phẩm và tính giá thành sản phẩm Hoàn thiện được quy trình sản xuất cá mè thính lên men 1.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Tìm ra các yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình sản xuất cá mè thính và thời hạn sử dụng của cá mè thính Đưa ra được quy trình sản xuất cá mè thính đạt giá trị thương phẩm 1. Ý nghĩa thực tiễn Tạo ra một sản phẩm từ cá hương vị mới lạ, có tác dụng tốt với sức khỏe, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Tạo điều kiện cho người dân sử dụng sản phẩm lên men từ nguyên liệu này ngày càng rộng rãi hơn.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về nguyên liệu 2. Giới thiệu về cá mè Cá mè (Aristichthys nobilis) thuộc bộ Cypriniformes, họ Cyprinidae. Cá mè thích nghi được các điều kiện sống khác nhau, có tốc độ sinh trưởng nhanh làm cho nó thành loài cá nuôi sinh lợi [2].
Thức ăn chủ yếu là thực vật phù du, một ít sinh vật nguyên sinh, động vật không xương sống cỡ nhỏ… Thịt cá mè có chất lượng tốt được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận. Nguồn nguyên liệu cá mè được nuôi trong các ao hồ hoặc đánh bắt ở các lưu vực sông Hồng, sông Lô.[4] Trong nhiều năm nay cá mè trắng chiếm sản lượng quan trọng nếu như không muốn nói đến là sản lượng chủ yếu trong sản lượng cá thịt nuôi trong ao hồ, đầm nước ngọt. Với hàm lượng chất khô là 22,36% và hàm lượng đạm tổng số là 2,36% tính theo trọng lượng tươi của cá, cá mè trắng đã cung cấp một lượng đạm đáng kể cho nhân dân ta. Phân loại cá mè Cá mè phân bố chủ yếu ở các sông, hồ,.
nơi các sinh vật phù du tập trung nhiều vì đây là nguồn thức ăn chủ yếu của chúng. Cá mè được phân loại như sau: - Chi cá mè trắng:[4] + Chi cá mè trắng (Hypophthalmichthys) có thể gọi là chi cá chép đầu to. Chi này chỉ có 3 loài, cả 3 loài đều là cá bành trướng ở Trung Quốc và Việt Nam. Có thể gọi là cá mè phương bắc.
Ba loài của chi cá mè trắng là : Hypophthalmichthys harmandi (Cá mè trắng Việt Nam) Hypophthalmichthys molitri (Cá mè trắng Hoa Nam) Hypophthalmichthys nobilis (Cá mè hoa) - Chi cá mè phƣơng nam: + Hiện nay chi này (Osteochilus) có 35 loài. Có thể gọi là cá mè phương nam. Trong danh sách của Đại học Cần Thơ, cá trong lưu vực sông Cửu Long có 4 loài thuộc chi Osteochilus: 4 Osteochilus melanopleurus - Cá mè hôi Ostechilus schlegelii - Cá mè hương Osteochilus hasseltii - Cá mè lúi Osteochilus spilopleura - Cá linh rìa - Chi cá he đỏ: + Một loài cá khác cũng được gọi là cá mè là cá mè vinh, cá này từ xưa được đặt tên là cá trà vinh. Cá trà vinh hay cá mè vinh thuộc chi cá he đỏ (Barbonymus).
Chi này có 5 loài sinh sống ở các nước Đông Nam Á:[4] Barbonymus altus: Cá he vàng Barbonymus balleroides Barbonymus collingwoodii Barbonymus gonionotus: Cá mè vinh, cá trà vinh Barbonymus schwanenfeldii: Cá he đỏ, cá kim sơn 2. Đặc điểm sinh học Tập tính bắt mồi: - Cá bột 1 – 2 ngày tuổi có thể đạt chiều dài 7 – 9 mm, với chiều dài ruột bằng 50 – 60% chiều dài cơ thể. Trong suốt giai đoạn này cá bắt đầu ăn thức ăn là động vật phù du. Cá bột 4 – 5 ngày tuổi dài 11 – 13 mm, thức ăn chính của cá trong giai đoạn này là bọ nước… Cá 8 – 12 ngày tuổi dài 23 mm, ruột dài bằng 90 – 100% chiều dài cơ thể và cuộn lại thành từng cuộn.
Thức ăn chủ yếu của cá trong giai đoạn này là bọ nước và một số thực vật phù du. Ở giai đoạn cá giống (dài hơn 30 mm) mang của cá bắt đầu hoàn thiện như cá trưởng thành và có dạng như cái mành tre, có tác dụng như một lưới lọc.[10] - Cá mè trắng trưởng thành có chiều dài ruột gấp 6,85 lần chiều dài cơ thể. Thức ăn chính của chúng trong giai đoạn này là thực vật phù du, sau đó là động vật phù du, ngoài ra còn có cả mùn bã hữu cơ đang trong quá trình phân hủy. Thức ăn được đưa vào miệng của cá cùng với nước và được các tia mạng giữ lại cho vào ruột.
5 Tốc độ tăng trưởng: - Cá mè có tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Sự tăng trọng của cá mè liên quan chặt chẽ đến từng giai đoạn phát triển và môi trường sống. Điều đó được thể hiện qua bảng dưới đây: Bảng 2.1: Tăng trọng của cá ở các giai đoạn phát triển khác nhau [14] Giai đoạn phát triển (Theo trọng Tăng trọng tƣơng đối hàng tháng lƣợng cơ thể kg/con) (kg/con/tháng) 0,05 – 0,25 0,1 – 0,2 0,3 – 0,5 0,2 – 0,25 0,5 – 2,0 0,3 – 0,4 2,0 – 4,0 0,08 – 0,2 Tập tính sống: - Cá mè thường sống ở tầng nước mặt và tầng giữa, nơi mà thực vật phù du tập trung nhiều, nước giàu dinh dưỡng nên chúng có thể chịu đựng được ở những nơi có hàm lượng vật chất tiêu hao oxy khá cao. - Trước mùa đẻ trứng cá thành thục sinh dục bắt đầu tập trung thành từng đàn và di cư dọc theo sông lên thượng nguồn để đẻ trứng.
Cá bột nở ra thì sống trôi nổi trên các khúc sông. Cá giống nhỏ sẽ bơi chủ động tìm đến những khúc sông rộng, vịnh, hồ để tìm chỗ kiếm mồi. - Mặc dù cá mè trắng chịu được sự thay đổi rất lớn của pH, nhưng dù sao nó cũng có một giới hạn nhất định, nó sẽ bị chết nhanh chóng khi pH < 4; hoặc > 10,2. Nhu cầu Oxy hòa tan và khả năng trao đổi chất sẽ suy giảm rất nhanh khi pH giảm xuống nhỏ hơn 6.
Trong trường hợp này cá chậm lớn. Thực tế chỉ ra rằng pH tối ưu cho cá mè phát triển từ 7 – 8. - Nhiệt độ của nước cực thuận cho cá phát triển từ 20 – 32oC. Khi nhiệt độ giảm xuống dưới 15oC cường độ bắt mồi của cá giảm mạnh và chúng sẽ ngừng bắt mồi ở nhiệt độ 7 – 8oC.
- Sự tăng trưởng và cường độ bắt mồi của cá bị chi phối nhiều bởi hàm lượng khí Oxy hòa tan (DO) lớn hơn 2,2 mg/l thì cá mè sinh trưởng và phát triển bình 6 thường. Khi DO < 2,2 mg/l nhu cầu sử dụng thức ăn giảm xuống rõ rệt. Tại DO < 1,1 mg/l cá bắt đầu nổi đầu và bỏ ăn. Sự nổi đầu nghiêm trọng tại thời điểm DO = 0,5 mg/l.
Cá sẽ ngạt thở và chết khi DO < 0,35 mg/l. Đặc điểm hình thái Cơ quan đường bên nằm ở phía dưới trục cơ thể. Số vảy tính dọc theo cơ thể từ 110 – 123; theo trục đứng là 26 – 27. Phần trên lưng có màu sẫm đen và phần còn lại có màu sáng bạc.
Cá mè phân bố rất rộng ở nhiều nước trên thế giới. Chúng là đối tượng nuôi phổ biến ở Việt Nam và Trung Quốc. Đặc điểm sinh sản Cá mè không có khả năng tự đẻ trứng trong ao nuôi. Ở điều kiện tự nhiên chúng phải di cư lên thượng nguồn để đẻ trứng.