ĐẶT VẤN ĐỀ Tỷ lệ mắc đái tháo đường típ 2 ngày càng gia tăng trên thế giới, theo báo cáo của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế IDF, năm 2019 (trong độ tuổi 20- 79 tuổi) có 463 triệu người đang chung sống với bệnh đái tháo đường, dự kiến tới năm 2030 con số đái tháo đường sẽ là 578 triệu người, tập trung ở các nước đang phát triển do việc tiêu thụ thực phẩm nhiều đường, ít rau và trái cây, lối sống ít vận động , sự đô thị hóa. Tại các nước này, tỷ lệ người béo phì, đái tháo đường có lứa tuổi mắc bệnh ngày càng trẻ hóa. Đây thực sự là hồi chuông báo động đối với các nước đang phát triển [43]. Tại Việt Nam, năm 2002-2003, tỷ lệ đái tháo đường toàn quốc ở lứa tuổi 30-64 tuổi là 2,7%; đến năm 2012 tỷ lệ người trưởng thành mắc bệnh đái tháo đường tăng gấp đôi 5,4% và dự báo đến năm 2045, số người mắc tiền đái tháo đường tại Việt Nam sẽ lên tới 7,9 triệu người mắc, tăng 47% so với năm 2019 [6], [21], [23].
Năm 2019, Việt Nam có xấp xỉ 3,8 triệu người mắc đái tháo đường, chiếm khoảng 5,7% người trưởng thành từ 20-79 tuổi [6]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế, chi phí liên quan đến bệnh đái tháo đường ở Việt Nam trung bình là 162,7 USD/bệnh nhân/năm vào năm 2015. Con số này cao hơn mức lương trung bình hàng tháng là 150 USD ở Việt Nam. Đái tháo đường típ 2 là “căn bệnh của lối sống”dinh dưỡng không hợp lý, ít hoạt động thể lực làm cho tốc độ mắc các bệnh mạn tính không lây [38].
Một số nghiên cứu cũng đã cho thấy, bệnh nhân mắc ĐTĐ típ 2 thực hiện chế độ dinh dưỡng đúng, tập luyện thể thao đúng cách sẽ giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn, đồng thời có tỷ lệ biến chứng thấp hơn bệnh nhân không thực hiện. Một khẩu phần ăn giàu thức ăn động vật, thói quen ăn ngoài gia đình, tăng sử dụng thức ăn nhanh, lạm dụng rượu bia và ít vận động đã góp phần gây nên tình trạng thừa cân, béo phì và thừa cân, béo phì là yếu tố nguy cơ của ĐTĐ típ 2, đặc biệt béo phi làm tăng nguy cơ biến chứng của bệnh đồng thời cũng chứng minh mỡ nội tạng tiết ra một loại protein là retinol-binding protein 4, làm tăng 2 tỉnh để kháng với insulin. Nghiên cứu của Khổng Thị Thúy Lan, Phạm Duy Tường (2017) tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy tỷ lệ thừa cân, béo phì ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 chiếm 18,9%, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn là 7,2% [16]. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương Lan, Đỗ Thị Mai Phương và Cộng sự (2021) tiến hành trên 232 bệnh nhân Đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, cho thấy: Năng lượng trung bình của nam là 1894,7 ± 811,4 kcal/ngày và của nữ là 1461 ± 477,6 kcal/ngày.
Tỷ lệ các chất sinh năng lượng protein: lipid: glucid tương ứng của nam và nữ lần lượt là 18,8: 27,3: 53,6 và 17,5: 25,1: 56,6 khá cân đối với nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị. Canxi còn thiếu so với nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người trưởng thành năm 2016 [17]. Việc sử dụng chế độ ăn hợp lý cho bệnh nhân giúp việc kiểm soát cân nặng tốt và hạn chế các biến chứng của Đái tháo đường típ 2. Tuy nhiên thực tế cho thấy tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 chưa được chú trọng, đặc biệt số bệnh nhân được quản lý và điều trị tại Trung tâm Y tế thành phố Vĩnh Yên khá đông khoảng gần 400 bệnh nhân.
Do đó, việc nắm được tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và dự phòng các biến chứng của đái tháo đường típ 2. Vậy thực trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 được quản lý và điều trị tại Trung tâm y tế thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc như thế nào? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 được quản lý, điều trị tại Trung tâm y tế thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và một số yếu tố liên quan” với mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 được quản lý, điều trị tại Trung tâm y tế thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2023. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại địa điểm nghiên cứu.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một vài nét về bệnh đái tháo đường 1. Định nghĩa đái tháo đường Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), định nghĩa: “Đái tháo đường là một rối loạn chuyển hóa mạn tính, có những đặc điểm sau: (1) tăng glucose máu; (2) kết hợp với những chuyển hóa bất thường về chuyển hóa carbohydrate, lipid và protein; (3) bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch khác” [3]. Phổ biến nhất là đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2 (chiếm khoảng 90- 95% trường hợp ĐTĐ) và thường ở người trưởng thành, ĐTĐ típ 2 xảy ra khi cơ thể kháng insulin hoặc không tạo đủ insulin [36], [52].
Đái tháo đường típ 2 (trước đây gọi là ĐTĐ không phụ thuộc insulin) xuất phát từ việc cơ thể sử dụng insulin không hiệu quả. Bệnh tiểu đường loại 2 bao gồm phần lớn những người mắc bệnh tiểu đường trên toàn thế giới, và phần lớn là kết quả của trọng lượng cơ thể dư thừa và không hoạt động thể chất. Kết quả là, bệnh có thể được chẩn đoán vài năm sau khi khởi phát, một khi các biến chứng đã phát sinh. Trước đây, chỉ có người lớn mắc ĐTĐ típ 2 nhưng hiện nay nó cũng xảy ra ngày càng thường xuyên hơn ở trẻ em [52].
Tiêu chuẩn chẩn đoán Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ (Quyết định số 3319/QĐ-BYT ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây [3]: a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/l).
Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm đái nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán. Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày. Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, phương pháp thường được áp dụng để chẩn đoán ĐTĐ là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Ngoài ra, HbA1c cũng có thể được sử dụng làm tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ.
Phân loại đái tháo đường * Có 4 loại đái tháo đường [3]: - ĐTĐ típ1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối). - Thể bệnh chuyên biệt của ĐTĐ do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô. Đặc điểm lâm sàng Các triệu chứng lâm sàng điển hình ở bệnh nhân bị ĐTĐ: Ăn nhiều, uống nhiều, đái nhiều, gầy nhiều, khô miệng, mệt mỏi [3]. Các triệu chứng này thường xuất hiện rầm rộ, và điển hình ở bệnh nhân ĐTĐ típ1 [3].
5 Đối với ĐTĐ típ 2, các triệu chứng thường diễn biến một cách âm thầm, kín đáo, tăng dần theo thời gian. Nếu như bệnh nhân có đủ các triệu chứng lâm sàng kể trên thì đã ở giai đoạn muộn của bệnh. Chính vì vậy, hơn 70% bệnh nhân ĐTĐ típ 2 được phát hiện bệnh khi đi khám một bệnh khác là biến chứng của ĐTĐ và khi đó bệnh đã nặng. Do vậy, nhiều khi các triệu chứng của biến chứng lại là dấu hiệu lâm sàng để chẩn đoán bệnh ĐTĐ [3].
Biến chứng của bệnh đái tháo đường Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ĐTĐ là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong toàn cầu, ĐTĐ típ 2 thường được phát hiện muộn với những biến chứng nặng nề như mù, suy thận, đau tim, đột quỵ và cắt cụt chi dưới [50]. Các biến chứng của bệnh hay gặp đó là: - Biến chứng tim mạch: Đây là biến chứng thường gặp và nguy hiểm, là hậu quả của tổn thương mạch máu lớn do xơ vữa động mạch hoặc tổn thương vi mạch gây ra. Ở bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp 4 lần so với người bình thường. Tỷ lệ bệnh nhân tiểu đường bị nhồi máu cơ tim tăng từ 45% lên đến 75% trong vòng 10 năm qua [26].
- Tăng huyết áp: THA là bệnh lý đi kèm thường gặp nhất trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2 với tỷ lệ xấp xỉ 90% và sự kết hợp này đã làm thúc đẩy nhanh hơn các biến chứng của bệnh ĐTĐ như biến chứng thận, biến chứng võng mạc, PĐTT, suy tim tâm trương và tăng nguy cơ tử vong do tim mạch hay tử vong chung cao hơn gấp 2 lần so với bệnh nhân THA nhưng không có ĐTĐ đi kèm [5]. Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở bệnh nhân ĐTĐ gấp 1,5 - 2 lần, viêm động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình thường. - Biến chứng thần kinh: Bệnh thần kinh do đái tháo đường gặp khá phổ biến, ước tính khoảng 30% bệnh nhân đái tháo đường có biểu hiện biến chứng này. Bệnh nhân đái tháo đường týp 2 thường có biểu hiện thần kinh ngay tại 6 thời điểm chẩn đoán.
Bệnh thần kinh do đái tháo đường thường được phân chia thành các hội chứng lớn sau: Viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần kinh thực vật, bệnh thần kinh vận động gốc chi [10]. - Biến chứng về mắt: Ngay tại thời điểm được chẩn đoán bệnh đã có tới 10 - 20% bệnh nhân có biểu hiện biến chứng tại mắt. Đục thủy tinh thể là một biến chứng thường gặp, liên quan đến thời gian mắc bệnh và mức độ tăng đường huyết kéo dài. Đục thủy tinh thể ở bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi tiến triển nhanh hơn người không bị ĐTĐ [10].