CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí địa lý Vùng biển Tây Nam Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam Á bởi sự hội tụ đầy đủ các giá trị về vị thế tự nhiên, vị thế kinh tế và vị thế chính trị cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, chủ quyền quốc gia và khu vực… Đặc biệt, đây là vùng có tiềm năng lớn trong phát triển hàng hải, nghề cá, hậu cần nghề cá, bưu chính viễn thông, các khu vực trung chuyển, cảng biển, khu công nghiệp, khu mậu dịch tự do, các hoạt động khai thác khoáng sản, du lịch sinh thái, các hoạt động liên kết giữa các vùng miền, lãnh thổ, lãnh hải qua các tuyến vành đai và hành lang kinh tế. Vùng biển Tây Nam (hình 1.1) thuộc các tỉnh Cà Mau và Kiên Giang, nằm ở phía Đông Vịnh Thái Lan. Bờ biển phía Tây Nam của nước ta, từ Hà Tiên tới Mũi Cà Mau, dài khoảng 350km (gồm 147km đường bờ biển thuộc tỉnh Cà Mau và 200km thuộc tỉnh Kiên Giang).
Dọc bờ biển, về phía nam (thuộc Cà Mau) có các sông Ông Đốc, Bảy Háp, Cửa Lớn; Về phía bắc (thuộc Kiên Giang) có các kênh Cái Lớn, Cái Bé, Giang Thành đổ ra các vịnh nhỏ như vịnh Rạch Giá, Cây Dương Nhỏ, Thuận Yên; Trong vùng biển, có 165 đảo lớn nhỏ, chiếm 5,7% về số lượng và 37,3% về diện tích đảo ven bờ Việt Nam. Các đảo lớn có diện tích trên 1km2 có thể kể đến là Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du, Hòn Nghệ, Minh Hoà. Vịnh Thái Lan là một vịnh nông, chỗ sâu nhất không quá 80m. So với các vùng biển khác ở nước ta, chế độ khí hậu vùng biển này tương đối điều hòa, ít tạo ra những biến động lớn về thủy động lực học.
Bờ biển khá bằng phẳng, độ dốc không lớn, có thể chia thành 2 phần chính: phần thứ nhất từ Mũi Cà Mau tới Mũi Hòn Chông, bãi biển khá bằng phẳng, độ dốc thấp. Phần thứ hai từ Mũi Hòn Chông đến Mũi Nai (Hà Tiên), bãi cát xen kẽ các vách núi nhô ra sát biển, khúc khuỷu, độ dốc lớn. Đáy biển tương đối phẳng, trừ các khu vực quanh đảo, vùng sâu dưới 10m chiếm 3/4 diện tích đáy. Đáy biển phần lớn là bùn, bùn pha cát lẫn vỏ trai ốc, đá san hô.
Sự đa dạng về hình thái của vùng biển Tây Nam còn tạo nên đa dạng về mặt sinh học. Khu vực này là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật quý hiếm, trong đó có những loài có nguy cơ tuyệt chủng cao như bò biển hay cá cúi. Hiện nay, ở đây đã hình thành hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn gồm có Vườn quốc gia mũi Cà Mau, khu Bảo tồn thiên nhiên Kiên - Hà - Hải và khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang. Khu bảo tồn biển Phú quốc đang được đề xuất công nhận.
Luận văn thạc sỹ: “Mô phỏng phân bố nồng độ Chlorophyll-a vùng biển Tây Nam Việt Nam” z 4 Hình 1. Phạm vi vùng nghiên cứu Luận văn thạc sỹ: “Mô phỏng phân bố nồng độ Chlorophyll-a vùng biển Tây Nam Việt Nam” z 5 1.2 Chế độ khí tượng Chế độ khí tượng được tham khảo từ báo cáo tổng kết đề tài KC.02 [9] Gió: Chế độ khí tượng thủy văn vùng biển Tây Nam biến đổi rõ rệt theo hai mùa gió: mùa gió đông bắc và mùa gió tây nam. Trong mùa gió đông bắc (từ tháng XI đến tháng III năm sau), hướng gió thịnh hành ở đây là hướng đông, cường độ gió khá yếu, chỉ bằng khoảng một nửa so với vịnh Bắc Bộ. Vào mùa gió tây nam (từ tháng V tới tháng IX), hướng gió thịnh hành là hướng tây, với tốc độ mạnh hơn nhiều so với mùa gió đông bắc.
Bão, dông: Bão ở vùng này hầu như rất ít, và nếu có chỉ tồn tại những cơn bão yếu (trung bình khoảng 5 năm mới có một cơn). Nhưng trong mùa gió tây nam thường có nhiều cơn dông xuất hiện. Nhiệt độ không khí: Khu vực nghiên cứu nằm ở vĩ độ thấp, nhận được nhiều bức xạ mặt trời, có nền nhiệt độ cao, biến đổi trong năm nhỏ. Ngoài khơi, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,2°C.
Các tháng III, IV, V là thời kỳ nóng nhất trong năm, nhiệt độ không khí trung bình tới 28,6°C. Nhiệt độ không khí cao nhất đã quan trắc được vào tháng III là 38,1°C. Tháng có nhiệt độ không khí thấp nhất là tháng I, trung bình 25,9°C. Nhiệt độ nước biển khu vực này rất cao, trung bình năm là 29,2°C, tháng có nhiệt độ cao nhất đạt tới 30,9°C (tháng IV), thấp nhất 27,8°C (tháng XII).
Như vậy, nhiệt độ mặt nước biển luôn luôn lớn hơn nhiệt độ không khí. Điều đó dẫn tới lớp biên sát bề mặt biển bất ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho dông phát triển. Độ ẩm không khí đặc trưng cho mức độ ẩm ướt của khí quyển. Tại khu vực đảo Phú Quốc, độ ẩm trung bình năm là 80,9%.
Vào mùa mưa độ ẩm lên rất cao, đến 89,3% (tháng IX), mùa khô 72-76%. Đặc biệt, vào mùa khô độ ẩm có thể xuống thấp tới 24%, thời tiết rất khô. Độ ẩm ngoài biển khơi và sát bờ có sự khác biệt, ngoài biển ẩm ướt hơn Lượng mưa: Khu vực nghiên cứu có đảo Phú Quốc là trung tâm mưa lớn của Việt Nam, lượng mưa đạt tới 3.200mm/năm hoặc cao hơn nữa. Ngoài khơi vùng đảo Phú Quốc có lượng mưa trung bình năm 3.001mm với 171,3 ngày có mưa trung bình.
Trong năm, lượng mưa lớn nhất vào các tháng VII, VIII, IX, (455-557mm/tháng). Điều này liên quan đến sự hoạt động của gió mùa tây nam,. Lượng mưa thấp nhất vào tháng I, II (23-37mm/tháng). Mùa mưa bắt đầu từ tháng IV đến tháng XI, các tháng còn lại ít mưa.
Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 93,4% lượng mưa cả năm, trung bình mỗi tháng có từ 10-22 ngày mưa. Luận văn thạc sỹ: “Mô phỏng phân bố nồng độ Chlorophyll-a vùng biển Tây Nam Việt Nam” z 6 Sương mù: Ngoài khơi vùng biển nghiên cứu không quan sát thấy sương mù, tầm nhìn xa rất tốt, đều lớn hơn cấp 5 (lớn hơn hoặc bằng 5km). Riêng dải sát bờ, quan sát thấy sương mù bức xạ. Số ngày có sương mù rất nhỏ, trung bình năm có 1,54 ngày, chủ yếu xảy ra vào mùa khô.3 Chế độ thủy văn Chế độ khí thủy văn được tham khảo từ báo cáo tổng kết đề tài KC.02 [9] Nhiệt độ nước biển:Trong những tháng gió mùa đông bắc, từ khoảng tháng XI đến tháng III năm sau, khi trường gió đông bắc ổn định và phát triển tới tận phía nam biển Đông, nhiệt độ của nước xâm nhập từ ngoài biển Đông vào vịnh Thái Lan.
Giá trị nhiệt độ tăng dần theo hướng tiến vào vịnh, tới khoảng giữa vịnh. Chênh lệch nhiệt độ giữa cận nam mũi Cà Mau và đảo Phú Quốc có thể tới khoảng trên dưới 1oC. Trong các tháng gió mùa tây nam, từ tháng V đến tháng IX, nhiệt độ tăng dần từ phía bờ Việt Nam - Thái Lan tới bờ Malaixia. Độ muối: Cả trong hai mùa gió, độ muối trong vịnh Thái Lan nói chung cao, trên 30‰.
Như vậy, nước vịnh được trao đổi mạnh với nước ngoài khơi biển Đông. Phần vịnh với nước mặt từ ngoài khơi biển Đông vào chiếm hơn nửa diện tích bề mặt vịnh. Phân bố độ muối trong vịnh thay đổi theo mùa rất rõ rệt. Trong mùa gió đông bắc, độ muối giảm theo hướng từ cửa vịnh vào trong vịnh tới khoảng quá giữa vịnh.
Dòng toàn phần vận chuyển nước trong gió mùa đông bắc ổn định hướng từ ngoài cửa vào trong vịnh quyết định bức tranh phân bố độ muối. Tại vị trí cửa vịnh, độ muối trên 33‰, thuộc loại cao tương đương với độ muối của nước mặt ngoài khơi biển Đông. Trong mùa gió tây nam, phân bố độ muối trong vịnh Thái Lan chủ yếu do quá trình sắp xếp lại nước của vịnh và nước từ lục địa trong vịnh quyết định. Quá trình này bắt đầu có biểu hiện từ tháng VI và phát triển nhất ở tháng VIII và IX.
Chỉ trong những tháng này, phân bố độ muối của vịnh hoàn toàn theo quy luật tăng dần từ bờ ra khơi. Nồng độ ôxy hòa tan: Do đặc điểm trao đổi nước mạnh giữa vịnh và vùng khơi biển Đông nên nền ôxy hòa tan trong nước biển vịnh Thái Lan cao như nước biển khơi. Quy luật phân bố nổi rõ nhất là nồng độ ôxy hòa tan tăng từ phía đỉnh vịnh nước nông ra cửa vịnh giáp với biển khơi. Theo độ sâu, nồng độ ôxy hòa tan giảm từ bề mặt tới đáy.
Giá trị nồng độ ôxy cao nhất trong mùa gió đông bắc (tại cửa vịnh tới 4,8 mg/l) và thấp nhất trong thời kỳ mùa gió tây nam. Luận văn thạc sỹ: “Mô phỏng phân bố nồng độ Chlorophyll-a vùng biển Tây Nam Việt Nam” z 7 1.4 Các đặc trưng động lực biển Các đặc trưng động lực biển được tham khảo từ báo cáo tổng kết đề tài KC.02 [9] Thủy triều: Trên vùng biển Tây Nam, chế độ thủy triều chủ yếu mang tính nhật triều không đều, các sóng nhật triều đóng vai trò chính. Độ lớn thủy triều ở đây không lớn, giá trị cực đại đạt khoảng 140-150cm và giá trị cực tiểu khoảng 10-20cm trong dải ven bờ từ Cà Mau đến Hà Tiên. Dòng chảy: Dòng gió nhỏ hơn dòng triều khá nhiều.
Nếu như dòng triều có thể đạt giá trị 30-40cm/s thì dòng gió trung bình chỉ đạt cực đại cỡ 10-15cm/s (trừ khu vực hẹp gần Mũi Cà Mau, dòng gió có thể khá mạnh vào mùa hè). Dòng triều đóng vai trò chủ yếu trong chế độ dòng chảy ở đây. Những hình thái dòng triều dâng, dòng triều rút sẽ quyết định việc hình thành bức tranh dòng chảy ở các thời điểm tương ứng. Dòng gió trung bình sẽ chỉ góp phần ảnh hưởng chút ít đến các hình thái đã xác định do dòng triều.
Dòng gió biến đổi theo mùa rất rõ rệt. Tồn tại trường dòng chảy theo 2 mùa chính: mùa gió đông bắc và mùa gió tây nam. Vào thời kỳ mùa gió đông bắc, dòng chảy phát triển mạnh nhất vào tháng I. Lúc này, dòng chảy trong vùng biển nghiên cứu có hướng chảy từ nam lên bắc.
Hệ thống dòng chảy trong vùng biển ven bờ này nằm trong hoàn lưu chung xoáy thuận trong toàn vịnh Thái Lan. Thời kỳ mùa gió tây nam, dòng chảy mạnh nhất vào tháng VII. Lúc này, ngược với thời kỳ mùa gió đông bắc, dòng chảy trong vùng nghiên cứu có xu thế chảy ngược lại, nghĩa là chảy từ bắc xuống nam. Hệ thống dòng chảy này nằm trong toàn lưu chung xoáy nghịch trong toàn vịnh Thái Lan.