Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ sinh học chuyên ngành Hóa sinh học (mã số 9.16) của nghiên cứu sinh Ninh Thị Ngọc có tiêu đề: "Nghiên cứu hoạt tính gây độc một số dòng tế bào ung thư của các hợp chất phân lập từ ba loài san hô mềm Sinularia nanolobata, Sinularia leptoclados, Sinularia conferta thu thập ở vùng biển Trung Bộ Việt Nam". Công trình được thực hiện tại Viện Hóa sinh biển thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Hoài Nam và TS. Trần Mỹ Linh, bảo vệ năm 2021 tại Học viện Khoa học và Công nghệ.
Về tính cấp thiết, các bệnh hiểm nghèo như ung thư tiếp tục là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, đòi hỏi việc tìm kiếm các hoạt chất mới có khả năng ức chế tế bào khối u và giảm thiểu tác dụng phụ. Sinh vật biển, đặc biệt là các loài sống ở đáy biển sâu với điều kiện cạnh tranh sinh thái cao, là nguồn cung cấp các chất chuyển hóa thứ cấp có cấu trúc đặc thù và hoạt tính sinh học chọn lọc. Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260 km cùng hệ thống đảo và vịnh phong phú, song các nghiên cứu về hóa sinh biển trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc sàng lọc sơ bộ hoạt tính in vitro, còn hạn chế về nghiên cứu cơ chế phân tử và thử nghiệm in vivo. Chi san hô mềm Sinularia (họ Alcyoniidae) phân bố rộng và có sinh khối lớn tại vùng biển nhiệt đới, nổi tiếng với các hợp chất sesquiterpen, diterpen và steroid. Tuy nhiên, ba loài Sinularia nanolobata, Sinularia leptoclados và Sinularia conferta tại vùng biển Việt Nam hầu như chưa được khảo sát một cách có hệ thống về thành phần hóa học cũng như hoạt tính gây độc tế bào ung thư.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 điểm:
- Xác định được thành phần hóa học của ba loài san hô mềm Sinularia nanolobata, Sinularia leptoclados và Sinularia conferta thu thập ở vùng biển Trung Bộ Việt Nam.
- Phát hiện được các hoạt chất có hoạt tính gây độc tế bào có trong các loài san hô mềm nghiên cứu, định hướng ứng dụng cho các nghiên cứu y sinh dược học.
Nội dung nghiên cứu của luận án gồm 4 phần chính:
- Xác định tên khoa học của ba loài san hô mềm thu thập ở vùng biển Trung Bộ Việt Nam bằng chỉ thị phân tử.
- Phân lập và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất từ ba loài san hô mềm S. nanolobata, S. leptoclados, S. conferta.
- Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư in vitro của các hợp chất phân lập được.
- Đánh giá cơ chế gây độc tế bào của một số hợp chất tiêu biểu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Ba loài san hô mềm thuộc chi Sinularia, bao gồm Sinularia nanolobata, Sinularia leptoclados và Sinularia conferta.
- Phạm vi không gian: Mẫu S. nanolobata được thu thập tại vùng biển Lăng Cô (tỉnh Thừa Thiên Huế); các mẫu S. leptoclados và S. conferta được thu thập tại vùng biển đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị).
- Phạm vi nội dung: Giám định loài bằng trình tự gen 28S rARN và msh1; chiết tách, phân lập, xác định cấu trúc hóa học các hợp chất tinh khiết; đánh giá hoạt tính gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư người (in vitro) và phân tích cơ chế gây chết tế bào theo con đường apoptosis và điều hòa chu kỳ tế bào.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại lịch sử phát triển của các dòng tế bào ung thư từ mốc lịch sử nuôi cấy tế bào HeLa năm 1951 bởi George Otto Gey, việc sử dụng tế bào HeLa của Jonas Salk (1954) để phát triển vắc xin bại liệt, đến việc thiết lập bảng 60 dòng tế bào (NCI60) của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ, bảng 45 dòng tế bào (JFCR-45) của Nakatsu và cộng sự (2005), cùng nghiên cứu sàng lọc 130 loại thuốc trên hàng trăm dòng tế bào của Garnett và cộng sự (2012). Tác giả tổng hợp số liệu thống kê từ Blunt và cộng sự về tỷ lệ nguồn dược liệu biển: Động vật thân lỗ chiếm 37%, Động vật ruột khoang chiếm 21%, Vi sinh vật chiếm 18%, Tảo chiếm 9%, Động vật da gai chiếm 6%, Tunicate chiếm 6%, Động vật thân mềm chiếm 2% và Động vật hình rêu chiếm 1%.
Văn bản hệ thống hóa các loại thuốc chống ung thư có nguồn gốc sinh vật biển đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Cơ quan Dược phẩm Châu Âu (EMA) phê duyệt lâm sàng:
| Tên hợp chất |
Tên thuốc |
Nguồn sinh vật biển |
Lớp chất |
Cơ chế tác động |
Tài liệu tham khảo |
| Cytarabine (Ara-C) |
Cytosar-U® |
Hải miên |
Nucleoside |
Ức chế ADN polymerase |
[28, 29, 30] |
| Eribulin Mesylate (E7389) |
Halaven® |
Hải miên |
Macrolide |
Tác động vi ống (Microtubules) |
[32] |
| Trabectedin (ET-743) |
Yondelis® |
Hải tiêu |
Alkaloid |
Liên kết rãnh nhỏ của ADN |
[31] |
| Brentuximab vedotin (SGN-35) |
Adcetris® |
Động vật thân mềm / Vi khuẩn lam |
Liên hợp kháng thể - thuốc (MMAE) |
Kháng CD30 & ức chế vi ống |
[33, 34] |
| Plitidepsin |
Aplidin® |
Hải tiêu |
Depsipeptide |
Kích hoạt Rac1 & JNK |
[35] |
| Polatuzumab vedotin |
Polivy™ |
Động vật thân mềm / Vi khuẩn lam |
Liên hợp kháng thể - thuốc |
Kháng CD79b & ức chế vi ống |
[36] |
| Enfortumab vedotin |
PADCEV™ |
Động vật thân mềm / Vi khuẩn lam |
Liên hợp kháng thể - thuốc |
Kháng Nectin-4 & ức chế vi ống |
[37] |
| Belantamab mafodotin |
Blenrep™ |
Động vật thân mềm / Vi khuẩn lam |
Liên hợp kháng thể - thuốc (MMAF) |
Tác động vi ống |
[38] |
| Lurbinectedin |
Zepzelca™ |
Hải tiêu |
Alkaloid |
Liên kết rãnh nhỏ của ADN |
[39] |
Về chi Sinularia, thế giới đã mô tả khoảng 138 loài (50 loài đã được khảo sát hóa học và hoạt tính sinh học), trong khi tại Việt Nam ghi nhận khoảng 66 loài nhưng mới có 6 loài được nghiên cứu. Các công trình trước đây về các nhóm chất chính từ chi Sinularia được luận án tổng quan gồm:
- Hợp chất sesquiterpen: Hợp chất furanosesquiterpen (3) từ S. kavarittiensis gây độc tế bào THP-1 với $IC_{50} = 29,59\ \mu\text{M}$ qua con đường ty thể; peroxygibberol (4) từ S. gibberosa ($IC_{50} = 8,2\ \mu\text{g/mL}$ trên tế bào gan); hợp chất 5 và 6 từ Sinularia sp. biển Hải Nam; $\Delta^9(15)$-africanene (9) từ S. polydactyla (Brackman 1980, Reddy và cs. 1999) gây độc tế bào EAC và DLAT; nanonorcaryophyllenes B (8) từ S. nanolobata; scabralin A (10) từ S. erecta và S. scabra; lochmolin A–D (11–14) từ S. lochmodes.
- Hợp chất diterpen (nhóm cembranoid và norcembranoid): Sinularin (18), dihydrosinularin (19) và sinulariolide (20) từ S. flexibilis (Weinheimer 1977); nghiên cứu cơ chế của sinularin (18) trên tế bào ung thư dạ dày AGS/NIC-N87 qua trục PI3K/Akt/mTOR (Yu-Jen Wu 2016), trên tế bào melanoma A2058 (Tzu-Rong Su), tế bào ung thư biểu mô gan HepG2 (Ting-Wen Chung 2017) và ung thư vú SKBR3 (Hurng-Wern Huang 2018); sinulariolide (20) trên tế bào ung thư bàng quang TSGH thông qua ty thể và p38MAPK; các hợp chất sinularolide A–E (24–28) từ S. gibberosa; sinuflexiolide D–E (30–31) từ S. flexibilis; flexibilide (55) từ S. flexibilis (Dan Gao 2016); 5-episinuleptolide acetate (89) từ Sinularia sp.; gyrosanol A–C (99–101) từ S. gyrosa; capilloquinol (102) từ S. capillosa; sinutriangulin A (103) từ S. triangula; sinulodurin A–B (104–105) từ S. dura.
- Hợp chất steroid: Dẫn xuất secocholestane (128, 129) từ S. granosa; gibberoepoxysterol (140) và gibberoketosterol (141) từ S. gibberosa; numersterol-A (126) từ S. numerosa; crassarosterol A và crassarosteroside A–C (150–153) từ S. crassa.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước tập trung trên hai loài Sarcophyton pauciplicatum và Menella woodin, mới dừng lại ở mức thử nghiệm bán trường diễn trên chuột/thỏ (liều 100–200 mg/kg) hoặc thử nghiệm sàng lọc in vitro. Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: ứng dụng công cụ sinh học phân tử để định loại chính xác 3 loài san hô mềm S. nanolobata, S. leptoclados và S. conferta thu thập tại vùng biển Trung Bộ, phân lập các thành phần hóa học tinh khiết (đặc biệt là các chất có cấu trúc mới), và đi sâu đánh giá cơ chế gây độc tế bào ung thư ở mức độ phân tử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án dựa trên hai nền tảng chính:
- Lý thuyết phân loại học phân tử: Sử dụng các đoạn trình tự gen chỉ thị gồm gen nhân 28S rARN và gen ty thể msh1 (mismatch repair protein 1) có tính đa hình cao trong phân loại bộ Alcyonacea, kết hợp đối chiếu ngân hàng gen NCBI và phân tích quan hệ phát sinh loài.
- Lý thuyết về quá trình tự chết theo chương trình (apoptosis) và chu kỳ tế bào: Apoptosis qua hai con đường nội bào (ty thể, giải phóng Cytochrome C, hoạt hóa caspase 9 và caspase 3) và ngoại bào (thụ thể chết, caspase 8 và caspase 3), kèm theo hiện tượng lật màng phosphatidylserine; lý thuyết kiểm soát sự phân chia tế bào qua các pha G0/G1, S, G2/M và tích lũy tế bào ở pha sub-G1.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:
[Mẫu san hô mềm (Lăng Cô, Cồn Cỏ)]
- Phương pháp sinh học phân tử:
- Tách chiết ADN tổng số từ mô san hô.
- Nhân bản đoạn gen chỉ thị bằng phản ứng PCR: Đoạn gen 28S rARN sử dụng cặp mồi 28SF và 28SR; đoạn gen ty thể msh1 sử dụng cặp mồi MSHF và MSHR.
- Dòng hóa sản phẩm PCR vào vector pTZ57R/T, biến nạp vào tế bào khả biến, kiểm tra khuẩn lạc bằng PCR-colony.
- Giải trình tự gen, so sánh độ tương đồng bằng công cụ BLAST trên NCBI, dựng cây phát sinh loài theo phương pháp Neighbor-Joining (NJ) sử dụng phần mềm MEGA6.
- Phương pháp hóa học và xác định cấu trúc:
- Chiết tách mẫu san hô bằng dung môi hữu cơ (ethanol/methanol), phân đoạn chiết lỏng - lỏng với các dung môi có độ phân cực tăng dần.
- Phân lập hợp chất bằng sắc ký cột pha thường (Silica gel), sắc ký cột pha đảo (C18), sắc ký lớp mỏng (TLC) và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC).
- Xác định cấu trúc hóa học bằng các phương pháp phổ hiện đại: Phổ khối lượng phân giải cao (HR-TOF-MS, LC-MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều và hai chiều ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, DEPT, $^1\text{H-}^1\text{H}\ \text{COSY}$, HSQC, HMBC, NOESY), phổ hồng ngoại (IR) và phổ lưỡng sắc tròn (CD).
- Phương pháp đánh giá hoạt tính và cơ chế sinh học:
- Nuôi cấy các dòng tế bào ung thư người: tế bào ung thư phổi (A549, LU-1), ung thư vú (MCF-7, MDAMB-435), ung thư gan (Hep-G2), ung thư máu (HL-60), ung thư ruột kết (DLD-1), ung thư da (SK-Mel-2), và đại thực bào chuột (RAW264.7) được cung cấp bởi ATCC.
- Đánh giá độc tính tế bào in vitro bằng phép thử MTT hoặc Sulforhodamine B (SRB) để xác định giá trị nồng độ ức chế 50% ($IC_{50}$).
- Đánh giá sự thay đổi hình thái tế bào dưới kính hiển vi quang học và kính hiển vi huỳnh quang.
- Đánh giá tỷ lệ tế bào apoptosis bằng phương pháp nhuộm huỳnh quang kép Annexin V/PI.
- Đánh giá khả năng kích thích hoạt hóa enzyme caspase 3.
- Phân tích chu kỳ tế bào (phân bố các pha sub-G1, G0/G1, S, G2/M) bằng hệ thống Flow cytometer Novocyte (ACEA Biosciences Inc.) và phần mềm NovoExpress.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Các mẫu san hô mềm tươi thu thập tại vùng biển Lăng Cô (S. nanolobata) và Cồn Cỏ (S. leptoclados, S. conferta); các bộ dữ liệu phổ thực nghiệm NMR, MS; dữ liệu trình tự gen từ NCBI; dữ liệu đo mật độ quang học và dữ liệu dòng tế bào phân tích tế bào theo dòng chảy.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Thử nghiệm đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư
Chương 1 cung cấp tổng quan cơ sở lý luận về ung thư, các mô hình thử nghiệm sinh học và các nghiên cứu về chi Sinularia. Tác giả trình bày cấu trúc giải phẫu học của san hô mềm thuộc bộ Alcyonacea (cấu trúc tập đoàn, hình thái monomorphic và dimorphic của polyp, các dạng khuẩn lạc như dạng phiến bám, dạng phễu, dạng cây, dạng cây bụi). Chương này làm rõ tính bảo thủ của hệ gen ty thể san hô mềm và vai trò của gen msh1 như một chỉ thị phân loại loài tin cậy kết hợp cùng đoạn gen nhân 28S rARN. Đồng thời, chương 1 tổng hợp chi tiết 160 hợp chất đại diện từ các loài san hô mềm chi Sinularia trên thế giới (bảng 1.2), phân tích mối liên quan giữa cấu trúc hóa học (vòng $\gamma$-lactone, $\varepsilon$-lactone, nhóm chức hydroxyl, epoxy, peroxy) với hoạt tính gây độc tế bào và kháng viêm.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc mẫu sinh học: Mẫu san hô mềm ký hiệu SN (S. nanolobata) thu tại Lăng Cô; các mẫu ký hiệu SLE (S. leptoclados) và SCO (S. conferta) thu tại đảo Cồn Cỏ. Tác giả thiết lập quy trình thực nghiệm chi tiết gồm:
- Thông số kỹ thuật phản ứng PCR: Thành phần phản ứng, chu kỳ nhiệt cho các cặp mồi 28SF/28SR và MSHF/MSHR.
- Quy trình dòng hóa đoạn gen vào vector tách dòng pTZ57R/T.
- Sơ đồ chiết tách và quy trình sắc ký phân lập các phân đoạn của ba mẫu san hô.
- Phương pháp luận giải phổ 1D và 2D NMR để giải cấu trúc hóa học.
- Điều kiện nuôi cấy tế bào, hóa chất thử nghiệm (FBS, DMEM, MTT, TCA, SRB, DMSO, Camptothecin đối chứng dương), quy trình nhuộm Annexin V/PI và đo chu kỳ tế bào trên máy Novocyte.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm thu được từ quá trình nghiên cứu:
- Giám định loài bằng sinh học phân tử: Giải thành công trình tự các đoạn gen 28S rARN và msh1 từ 3 mẫu san hô mềm; kết quả so sánh BLAST với dữ liệu chuẩn trên NCBI khẳng định tên khoa học của 3 loài là Sinularia nanolobata, Sinularia leptoclados và Sinularia conferta.
- Phân lập hóa học:
- Từ loài S. nanolobata: Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất ký hiệu SN, bao gồm các hợp chất mới SN 8, SN 6, SN 20 (Nanolobatol B), SN 30 (Nanolobatol A) và các hợp chất đã biết.
- Từ loài S. leptoclados: Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất ký hiệu SLE, gồm các hợp chất mới SLE 10 (Leptosteroid), SLE 21 (5,6$\beta$-epoxygorgosterol) và hợp chất SLE 27.
- Từ loài S. conferta: Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất ký hiệu SCO, gồm các hợp chất mới SCO 29 (7-methoxygorgosterol), SCO 30 (7$\alpha$-Methoxy-ergosta-5-ene-3$\beta$-ol), SCO 44 (3-hydroxyergosta-4-en-6-one), SCO 42 (ergost-24(28)-ene-3$\beta$,5$\alpha$,6$\beta$-triol-3-acetate), SCO 32 (3-hydroxyergosta-4,24(28)-dien-6-one) và hợp chất SCO 27.
- Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào: Thử nghiệm độc tính trên các dòng tế bào ung thư A549, MCF-7, Hep-G2, HL-60, DLD-1, SK-Mel-2...
- Kết quả nghiên cứu cơ chế:
- Hợp chất SCO 27 gây thay đổi hình thái co cụm tế bào, kích thích sản sinh caspase 3 và làm tăng tỷ lệ tế bào apoptosis dòng A549 (nhuộm Annexin V/PI ở các nồng độ 5 $\mu\text{M}$ và 10 $\mu\text{M}$ sau 24 giờ so với đối chứng dương camptothecin 5 $\mu\text{M}$).
- Hợp chất SLE 27 gây teo nhân, co màng tế bào ung thư vú MCF-7, kích nổ quá trình apoptosis (nhuộm Annexin V/PI ở 10, 30, 100 $\mu\text{M}$ sau 24 giờ) và làm biến đổi tỷ lệ phân bố chu kỳ tế bào MCF-7 (gia tăng quần thể tế bào ở pha sub-G1/apoptosis sau 48 giờ xử lý).
Chương 4: Bàn luận kết quả nghiên cứu
Chương 4 tập trung biện giải các dữ liệu thực nghiệm:
- Bàn luận dữ liệu phát sinh chủng loại: Cây quan hệ di truyền Neighbor-Joining trên phần mềm MEGA6 xây dựng từ trình tự msh1 và 28S rARN chứng minh các mẫu san hô nghiên cứu nằm cùng nhánh với các mẫu chuẩn tương ứng trên ngân hàng gen thế giới.
- Bàn luận xác định cấu trúc hóa học các hợp chất mới:
- Loài S. nanolobata: Biện giải phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, tương tác HMBC, NOESY) và phổ khối HR-TOF-MS của hợp chất mới SN 8 ($3\beta,4\alpha\text{-dihydroxyergosta-}5,24(28)\text{-diene}$), SN 6 ($24(S),28\text{-epoxyergost-}5\text{-ene-}3\beta,4\alpha\text{-diol}$), SN 20 (Nanolobatol B) và SN 30 (Nanolobatol A).
- Loài S. leptoclados: Phân tích cấu trúc của hợp chất mới SLE 10 (Leptosteroid), SLE 21 ($5,6\beta\text{-epoxygorgosterol}$) và hợp chất SLE 27 ($\text{Ergosta-}5,24(28)\text{-dien-}3\beta,7\beta\text{-diol}$).
- Loài S. conferta: Phân tích cấu trúc các hợp chất mới SCO 29 ($7\text{-methoxygorgosterol}$), SCO 30 ($7\alpha\text{-Methoxy-ergosta-}5\text{-ene-}3\beta\text{-ol}$), SCO 44 ($3\text{-hydroxyergosta-}4\text{-en-}6\text{-one}$), SCO 42 ($\text{ergost-}24(28)\text{-ene-}3\beta,5\alpha,6\beta\text{-triol-}3\text{-acetate}$), SCO 32 ($3\text{-hydroxyergosta-}4,24(28)\text{-dien-}6\text{-one}$) và SCO 27 ($24\text{-methylenecholestane-}3\beta,5\alpha,6\beta\text{-triol-}6\text{-monoacetate}$).
- Bàn luận về hoạt tính gây độc tế bào và mối liên quan giữa cấu trúc - hoạt tính: Phân tích sự ảnh hưởng của khung steroid ergostane, gorgostane và vị trí nhóm thế hydroxy, methoxy, acetoxy đối với hiệu lực ức chế tế bào khối u.
- Biện luận cơ chế phân tử của SLE 27 và SCO 27: Làm rõ con đường gây chết tế bào thông qua hoạt hóa caspase 3 và bắt giữ chu kỳ tế bào ở pha sub-G1.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn:
- Đóng góp về phân loại học phân tử: Định danh chính xác 3 loài san hô mềm Sinularia nanolobata, Sinularia leptoclados và Sinularia conferta thu thập tại vùng biển Trung Bộ Việt Nam bằng việc kết hợp trình tự gen nhân 28S rARN và gen ty thể msh1.
- Đóng góp về hóa sinh học các hợp chất thiên nhiên: Phân lập và xác định cấu trúc hóa học của nhiều hợp chất mới:
- Từ S. nanolobata: 4 hợp chất mới gồm SN 8 ($3\beta,4\alpha\text{-dihydroxyergosta-}5,24(28)\text{-diene}$), SN 6 ($24(S),28\text{-epoxyergost-}5\text{-ene-}3\beta,4\alpha\text{-diol}$), SN 20 (Nanolobatol B) và SN 30 (Nanolobatol A).
- Từ S. leptoclados: 2 hợp chất mới gồm SLE 10 (Leptosteroid) và SLE 21 ($5,6\beta\text{-epoxygorgosterol}$).
- Từ S. conferta: 5 hợp chất mới gồm SCO 29 ($7\text{-methoxygorgosterol}$), SCO 30 ($7\alpha\text{-Methoxy-ergosta-}5\text{-ene-}3\beta\text{-ol}$), SCO 44 ($3\text{-hydroxyergosta-}4\text{-en-}6\text{-one}$), SCO 42 ($\text{ergost-}24(28)\text{-ene-}3\beta,5\alpha,6\beta\text{-triol-}3\text{-acetate}$) và SCO 32 ($3\text{-hydroxyergosta-}4,24(28)\text{-dien-}6\text{-one}$).
- Đóng góp về hoạt tính sinh học và cơ chế tác động: Cung cấp dữ liệu sàng lọc độc tính tế bào in vitro của các dãy hợp chất trên nhiều dòng tế bào ung thư người; chứng minh hợp chất SCO 27 gây độc tế bào ung thư phổi A549 thông qua cảm ứng apoptosis phụ thuộc enzyme caspase 3; chứng minh hợp chất SLE 27 gây apoptosis và biến đổi chu kỳ tế bào trên dòng ung thư vú MCF-7.
Kiến nghị của luận án:
- Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác động ở mức độ biểu hiện gen và protein (con đường ty thể, thụ thể màng, các protein họ Bcl-2, MAPK) đối với các hợp chất có hoạt tính cao.
- Tiến hành thử nghiệm hoạt tính trên mô hình động vật (in vivo) và đánh giá độc tính tiền lâm sàng nhằm định hướng ứng dụng làm chất dẫn đường phát triển dược phẩm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Các thử nghiệm đánh giá hoạt tính và cơ chế gây độc tế bào mới chỉ được thực hiện trên mô hình nuôi cấy tế bào in vitro, chưa tiến hành thử nghiệm trên mô hình động vật sống (in vivo).
- Nghiên cứu cơ chế tác động chuyên sâu mới chỉ tập trung vào hai hợp chất đại diện là SLE 27 và SCO 27 trên hai dòng tế bào ung thư (MCF-7 và A549).
- Hàm lượng của một số hợp chất mới phân lập được còn rất nhỏ, hạn chế khả năng mở rộng thử nghiệm sinh học đa mục tiêu.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế phân tử chi tiết của các hợp chất mới phân lập khác đối với các dòng tế bào ung thư nhạy cảm.
- Nghiên cứu bán tổng hợp hoặc tổng hợp toàn phần các hợp chất tiềm năng nhằm cung cấp đủ khối lượng cho các thử nghiệm dược lý tiền lâm sàng.
- Khảo sát biến động thành phần hóa học theo mùa và vùng sinh thái biển đối với các loài san hô mềm chi Sinularia.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Hóa sinh học, Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Dược học, Công nghệ sinh học và Sinh học biển.
- Các nhà nghiên cứu và giảng viên tại các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành: Cung cấp quy trình chiết tách, hệ thống số liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D/2D NMR và phổ khối HR-TOF-MS của các khung cấu trúc steroid biển và terpenoid; tài liệu tham khảo về phương pháp kết hợp chỉ thị 28S rARN và msh1 trong phân loại học phân tử san hô mềm.
- Các chuyên gia nghiên cứu phát triển thuốc: Cung cấp dữ liệu về cấu trúc hóa học và cơ chế gây độc tế bào của các hợp chất dẫn đường có nguồn gốc từ tài nguyên biển Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
-
Ba loài san hô mềm nghiên cứu trong luận án được thu thập tại những vùng biển nào của Việt Nam?
Mẫu san hô mềm Sinularia nanolobata được thu thập tại vùng biển Lăng Cô (tỉnh Thừa Thiên Huế); hai loài Sinularia leptoclados và Sinularia conferta được thu thập tại vùng biển đảo Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị).
-
Luận án đã sử dụng những đoạn gen chỉ thị nào để giám định tên khoa học của các mẫu san hô mềm?
Luận án sử dụng đoạn gen nhân 28S rARN (khuếch đại bằng cặp mồi 28SF/28SR) và đoạn gen ty thể msh1 (khuếch đại bằng cặp mồi MSHF/MSHR), sau đó dòng hóa vào vector pTZ57R/T, giải trình tự và phân tích tương đồng qua công cụ BLAST trên cơ sở dữ liệu NCBI cùng cây phát sinh loài Neighbor-Joining trên phần mềm MEGA6.
-
Những hợp chất mới nào đã được phân lập và xác định cấu trúc từ ba loài san hô mềm trong công trình này?
Luận án đã phân lập và xác định cấu trúc của 11 hợp chất mới:
- Từ S. nanolobata: SN 8 ($3\beta,4\alpha\text{-dihydroxyergosta-}5,24(28)\text{-diene}$), SN 6 ($24(S),28\text{-epoxyergost-}5\text{-ene-}3\beta,4\alpha\text{-diol}$), SN 20 (Nanolobatol B), SN 30 (Nanolobatol A).
- Từ S. leptoclados: SLE 10 (Leptosteroid), SLE 21 ($5,6\beta\text{-epoxygorgosterol}$).
- Từ S. conferta: SCO 29 ($7\text{-methoxygorgosterol}$), SCO 30 ($7\alpha\text{-Methoxy-ergosta-}5\text{-ene-}3\beta\text{-ol}$), SCO 44 ($3\text{-hydroxyergosta-}4\text{-en-}6\text{-one}$), SCO 42 ($\text{ergost-}24(28)\text{-ene-}3\beta,5\alpha,6\beta\text{-triol-}3\text{-acetate}$), SCO 32 ($3\text{-hydroxyergosta-}4,24(28)\text{-dien-}6\text{-one}$).
-
Cơ chế gây độc tế bào ung thư của hai hợp chất SCO 27 và SLE 27 được chứng minh như thế nào?
Hợp chất SCO 27 làm biến đổi hình thái tế bào, kích thích sản sinh enzyme caspase 3 và kích hoạt quá trình tự chết theo chương trình (apoptosis) trên dòng tế bào ung thư phổi A549 qua phương pháp nhuộm Annexin V/PI ở nồng độ 5 $\mu\text{M}$ và 10 $\mu\text{M}$. Hợp chất SLE 27 gây apoptosis trên dòng ung thư vú MCF-7 (nhuộm Annexin V/PI ở 10, 30, 100 $\mu\text{M}$ sau 24 giờ) và làm gia tăng tỷ lệ tế bào ở pha sub-G1 trong phân tích chu kỳ tế bào sau 48 giờ xử lý trên hệ thống Flow cytometer Novocyte.
-
Phương pháp quang phổ nào đã được sử dụng để xác định cấu trúc hóa học các hợp chất trong luận án?
Luận án sử dụng kết hợp phổ khối lượng phân giải cao HR-TOF-MS, phổ khối LC-MS, phổ hồng ngoại IR, phổ lưỡng sắc tròn CD, và hệ thống phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D/2D NMR ($^1\text{H-NMR}$, $^{13}\text{C-NMR}$, DEPT, $^1\text{H-}^1\text{H}\ \text{COSY}$, HSQC, HMBC, NOESY).
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Ninh Thị Ngọc là công trình nghiên cứu thực nghiệm toàn diện về hóa sinh học trên ba loài san hô mềm Sinularia nanolobata, Sinularia leptoclados và Sinularia conferta tại vùng biển Trung Bộ Việt Nam. Tác giả đã kết hợp thành công phương pháp sinh học phân tử (chỉ thị gen 28S rARN và msh1) để định danh mẫu sinh học, phân lập và xác định cấu trúc của 11 hợp chất mới cùng nhiều hợp chất tự nhiên khác. Công trình đã làm sáng tỏ hoạt tính gây độc tế bào ung thư in vitro và cơ chế gây apoptosis qua enzyme caspase 3 và chu kỳ tế bào của các hợp chất tiêu biểu SCO 27 và SLE 27. Kết quả này đóng góp dữ liệu khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu thành phần hóa học và tiềm năng dược liệu sinh vật biển tại Việt Nam.