Chương 1. Sự cuốn của protein (a) (b) (c) (d) (e) (f) Hình 1.2: Cấu trúc trạng thái cuốn của vùng B1 của protein G (a–c) và của protein A (d–f). Các cấu trúc protein được biểu diễn ở dạng gồm tất cả các nguyên tử (all-atom) (a,d), dạng dải (ribbon) (b,e) và dạng mạch xương sống (backbone) (c,f). Trong biểu diễn dạng dải, các xoắn α được tô màu đỏ và các phiến β được tô màu vàng.
Trong biểu diễn mạch xương sống, các amino acid khác nhau được phân biệt bằng các màu khác nhau. Các dữ liệu cấu trúc được lấy từ ngân hàng dữ liệu protein (PDB) với mã PDB 1pga cho vùng B1 của protein G và 2spz cho protein A. trong khi một vài các amino acid khác có xu hướng xuất hiện nhiều hơn tại một loại cấu trúc cụ thể. Ví dụ, Alanine (Ala) xuất hiện nhiều trong các xoắn α và được gọi amino acid tạo xoắn.
Tuy vậy, hầu hết các amino acid đều có thể tham gia các cấu trúc bậc hai. Cấu trúc protein được ổn định bởi tương tác giữa các amino acid, bao gồm liên kết hydro, tương tác van der Waals, tương tác kỵ nước. Các liên kết hydro giúp ổn định các cấu trúc bậc hai trong khi tương tác kỵ nước và van der Waals có vai trò chủ yếu trong việc ổn định cấu trúc bậc ba. Trong một số protein có thể tồn tại các cầu muối (salt bridge) là liên kết ion giữa các nhóm nguyên tử mang điện tích trái dấu, và cầu lưu hình kép (disulfide bridge) là tương tác hóa trị giữa 2 nguyên tử lưu huỳnh của hai amino acid Cysteine (Cys).2 Hiện tượng cuốn protein Khi các điều kiện của môi trường như nhiệt độ, áp suất, độ pH bị thay đổi, hoặc khi các chất làm duỗi được cho thêm vào dung dịch, protein có thể bị duỗi ra thành dạng cuộn ngẫu nhiên, không giữ được cấu trúc bậc hai, bậc ba và mất 10 Chương 1.
Sự cuốn của protein đi hoạt tính sinh học vốn có. Hiện tượng duỗi protein được phát hiện lần đầu bởi Christian Anfinsen vào năm 1957. Trong thí nghiệm của mình Anfinsen đã làm thay đổi cấu trúc và làm mất hoạt tính sinh học của ribonuclease A bằng cách thêm urea vào dung dịch chứa protein. Khi các điều kiện dung môi trở lại như ban đầu, Anfinsen phát hiện ra rằng protein bị duỗi gần như ngay lập tức quay trở lại trạng thái cuốn [3].
Quá trình hồi phục này được gọi là quá trình cuốn protein (protein folding) và nó diễn ra nhanh chóng, trong khoảng thời gian từ vài phần nghìn giây đến vài giây, với hầu hết protein. Các thí nghiệm của Anfinsen dẫn đến kết luận cho rằng cấu trúc 3 chiều của protein được xác định hoàn toàn bởi trình tự amino acid [3]. Kết luận này cũng được biết đến với các tên gọi mã di truyền bậc hai và giả thuyết nhiệt động lực học. Theo giả thuyết nhiệt động lực học, trạng thái cuốn của protein phải là trạng thái có năng lượng thấp nhất để protein có thể duỗi ra và cuốn lại và trạng thái ban đầu một cách thuận nghịch.
Cấu trúc ba chiều chính xác là điều kiện cần để hầu hết các protein thực hiện chức năng sinh học của chúng. Những protein thất bại khi cuốn về cấu trúc tự nhiên trong một số trường hợp có thể dẫn tới những hệ quả độc hại. Một số loại bệnh như Alzeihmer, Parkinson, tiểu đường tuýp 2 được cho là kết quả của sự tích tụ của các protein cuốn sai thành các sợi amyloid [2]. Trong tế bào cũng tồn tại một số loại protein chức năng luôn ở trạng thái không cuốn hoặc có một phần không cuốn, được gọi là các protein có bản chất mất trật tự (intrinsically disordered proteins) [32].3 Nghịch lý Levinthal Dựa trên số lượng bậc tự do của chuỗi polypeptide, Levinthal đã ước lượng số cấu hình khả dĩ của phân tử protein và cho thấy nó là con số rất lớn.
Một chuỗi polypeptide có 100 đơn phân sẽ có 99 liên kết peptide và bởi vậy có 198 góc nhị diện φ và ψ khác nhau (φ và ψ là các góc quay xung quanh các liên kết N–Cα và Cα –C’ trong mạch xương sống của chuỗi polypeptide). Mỗi góc liên kết đó có thể ở một trong ba cấu hình ổn định thì số cấu hình của phân tử protein là 3198. Nếu quá trình cuốn là một sự tìm kiếm mù lòa (blind search) trong không gian cấu hình, protein buộc phải kiểm tra tất cả các cấu hình để tìm ra trạng thái native. Do số cấu hình rất lớn, nếu protein chỉ cần ở mỗi cấu hình trong 10−15 s thì thời gian cuốn đã dài hơn cả tuổi vũ trụ.
Trong khi đó chúng ta biết rằng protein trong tự nhiên cuốn trong thời gian từ vài mini giây tới vài giây. Nghịch lý này dẫn đến giả thuyết cho rằng quá trình cuốn phải diễn ra theo một 11 Chương 1. Sự cuốn của protein vài đường dẫn cuốn (folding pathway) xác định [5]. Các đường dẫn cuốn này chỉ bao gồm một phần rất nhỏ các cấu hình trong không gian cấu hình, do vậy protein tránh được nghịch lý Levinthal.
Giả thuyết về sự tồn tại của các đường dẫn cuốn này được coi là quan điểm cũ (old view) về cuốn protein [33].4 Phễu cuốn Theo giả thuyết nhiệt động lực học [3], trạng thái cuốn của protein là trạng thái có năng lượng thấp nhất. Quá trình cuốn do vậy là có thể coi là quá trình tiến về trạng thái năng lượng thấp nhất đó trên một địa hình năng lượng (energy landcape) xác định bởi năng lượng của tất cả các trạng thái trong không gian cấu hình. Có thể hình dung địa hình năng lượng là bề mặt năng lượng trong không gian nhiều chiều của tất cả các bậc tự do của protein. Quá trình cuốn trong nghịch lý Levinthal ứng với một địa hình năng lượng dạng sân gôn, trong đó tất cả các cấu hình có năng lượng bằng nhau ngoại trừ trạng thái cuốn có năng lượng thấp hơn (Hình 1.
Địa hình năng lượng như vậy không dẫn dắt quá trình cuốn và thời gian cuốn là vô cùng lớn. Vào năm 1995, Wolynes, Onuchic và Thirumalai đưa ra ý tưởng về phễu cuốn (folding funnel) [6] như được mô tả trên Hình 1. Bề mặt phễu mô tả sự phụ thuộc của năng lượng vào cấu hình của protein với trạng thái cuốn nằm ở đáy phễu có năng lượng thấp nhất. Trên bề mặt năng lượng có thể tồn tại các cực tiểu năng lượng địa phương ứng với các trạng thái giả bền vững và các rào thế protein phải vượt qua để thoát ra khỏi các cực tiểu này.
Độ rộng của phễu mô tả sự phụ thuộc của entropy vào năng lượng. Có thể thấy là trong phễu cuốn khi năng lượng giảm thì entropy cũng giảm. Energy Native state Conformations Hình 1.3: Địa hình năng lượng dạng sân gôn ứng với quá trình cuốn trong nghịch lý Levithal. Sự cuốn của protein entropy g folding energy N Hình 1.
Quá trình cuốn protein trong phễu cuốn là quá trình giảm đồng thời cả năng lượng và entropy. Do entropy là đại lượng ứng với số cấu hình, quá trình giảm năng lượng đồng thời làm giảm số cấu hình cần tìm kiếm, theo đó protein tránh được nghịch lý Levinthal. Mặt khác, các cực tiểu năng lượng địa phương có thể tạo ra các bẫy động học, làm chậm quá trình cuốn. Trên địa hình năng lượng dạng phễu, protein có thể cuốn theo các đường dẫn cuốn bất kỳ được dẫn dắt bởi sự giảm năng lượng và có thể có vô số các đường dẫn cuốn khác nhau.
Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm gần đây ủng hộ ý tưởng phễu cuốn và đây cũng được coi là quan điểm mới (new view) về cuốn protein [34].5 Nguyên lý thất vọng tối thiểu Sự tồn tại của các cực tiểu năng lượng địa phương cùng các rào thế trong địa hình năng lượng của protein có thể giải thích là do xung đột giữa các tương tác trong protein. Theo ngôn ngữ của vật lý các hệ phức hợp thì sự xung đột này được gọi là sự thất vọng (frustration) của hệ. Hệ bị thất vọng sẽ khó đạt được trạng thái có năng lượng thấp nhất trong các quá trình động lực học tiến về cân bằng do sự cạnh tranh của các trạng thái giả bền vững. Các hệ thất vọng nhất là các hệ thủy tinh, là các hệ không bao giờ đạt được trạng thái cân bằng (thời gian hồi phục vô cùng lớn).
Protein là một hệ phức hợp với 20 loại amino acid và nhiều loại tương tác khác nhau. Do vậy, với một trình tự amino acid ngẫu nhiên thì sự xung đột giữa các tương tác là rất lớn và chuỗi polypeptide không thể cuốn nhanh chóng về trạng thái có năng lượng thấp nhất. Vào năm 1989, Bryngelson và Wolynes [35] đưa ra giả thuyết cho rằng 13 Chương 1. Sự cuốn của protein protein trong tự nhiên tuân theo nguyên lý thất vọng tối thiểu (principle of minimum frustration).
Theo nguyên lý này, trình tự amino acid của các protein trong tự nhiên đã được tối ưu hóa thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên sao cho sự thất vọng của hệ là nhỏ nhất. Việc giảm thiểu sự thất vọng giúp cho địa hình năng lượng của protein giảm được tối đa được số lượng các cực tiểu năng lượng địa phương cũng như độ cao của các rào chắn năng lượng. Một trình tự amino acid lý tưởng ứng với bề mặt năng lượng lý tưởng có dạng phễu trơn mượt giúp protein cuốn nhanh chóng về trạng thái cuốn. Nguyên lý thất vọng tối thiểu có nội dung tương tự như nguyên lý nhất quán tối đa (principle of maximum consistency) được đề xuất bởi Go vào năm 1981 [10].
Go cho rằng có sự nhất quán giữa cấu trúc trạng thái cuốn và các tương tác của protein sao cho các tương tác có thể ổn định các cấu trúc không cuốn là không đáng kể. Đáng chú ý, mô hình Go được đề xuất dựa trên nguyên lý này cho cơ chế cuốn phù hợp khá tốt với thực nghiệm [12].6 Mô hình hai trạng thái cho cơ chế cuốn protein Các quan sát từ thực nghiệm cho thấy hầu hết các protein nhỏ hình cầu cuốn theo cơ chế hai trạng thái [36, 37]. Nếu gọi trạng thái duỗi, không cuốn của protein là D (denatured state) và trạng thái cuốn hay trạng thái tự nhiên là N (native state) thì trong quá trình cuốn từ D về N theo cơ chế hai trạng thái, protein không dừng lại lâu ở bất kỳ trạng thái nào.5 minh họa giản đồ năng lượng tự do của quá trình cuốn 2 trạng thái (Hình 1. Trên giản đồ các trạng thái D và N xuất hiện dưới dạng các cực tiểu năng lượng tự do.
Trạng thái chuyển tiếp TS (transition state) được xác định là trạng thái đỉnh cao nhất của bờ năng lượng tự do.