Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kỹ thuật với đề tài "Nghiên cứu tương tác sóng - đảo Phú Quý và đề xuất giải pháp giảm sóng quanh đảo" do nghiên cứu sinh Mai Quang Khoát thực hiện tại Trường Đại học Thủy lợi (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Mai Văn Công và GS.TS. Phạm Ngọc Quý. Luận án thuộc chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Thủy, mã số đào tạo 9580202, hoàn thành vào năm 2021 tại Hà Nội.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận) là hòn đảo lớn nhất trong quần thể 10 đảo của huyện đảo, giữ vị trí chiến lược trọng yếu trong phát triển kinh tế biển và an ninh quốc phòng khu vực Nam Trung Bộ. Dưới tác động thường xuyên của trường sóng trong các đợt gió mùa và bão, hiện tượng xói lở bờ bãi quanh đảo diễn biến ngày càng phức tạp và có xu hướng gia tăng. Các công trình xây dựng dân sinh, hệ thống đê phá sóng mở rộng cảng cá phía Nam cũng như đê kè phía Tây đảo đã và đang làm thay đổi phân bố trường sóng, dòng ven bờ và quá trình bồi xói. Trong khi các nghiên cứu về cửa sông ven biển lục địa tại Việt Nam đã được triển khai khá phong phú, các công trình nghiên cứu sâu về trường sóng tương tác với vùng ven bờ các đảo ngoài khơi (bao gồm khúc xạ, nhiễu xạ, phản xạ) và biến động hình thái đường bờ đảo vẫn còn rất hạn chế.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ chính:

  1. Mô phỏng và xác định trường sóng quanh vùng bờ đảo theo các mùa gió thịnh hành và đánh giá tương tác của trường sóng (nhiễu xạ, khúc xạ, phản xạ) với đảo.
  2. Đề xuất các giải pháp công trình nhằm giảm sóng tác động trực tiếp vào đường bờ đảo, tăng cường ổn định bờ và khôi phục bãi ven đảo phục vụ phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Đối tượng nghiên cứu là vùng bờ biển quanh đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận; sự lan truyền sóng biển từ ngoài khơi vào khu vực ven bờ đảo và tương tác của vùng bờ đảo với sóng biển. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở vùng biển ven bờ đảo Phú Quý, xem xét trường sóng dưới tác động của các hướng gió mùa thịnh hành và sóng bão thiết kế, cùng các giải pháp công trình dạng đê phá sóng bảo vệ bờ đảo. Về chuỗi thời gian dữ liệu, luận án sử dụng số liệu thống kê gió và sóng 40 năm (1979–2019), số liệu đo đạc thực tế đợt quan trắc từ 18/12/2012 đến 03/01/2013 và dữ liệu viễn thám biến động đường bờ giai đoạn 2000–2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại lịch sử nghiên cứu thủy động lực học sóng biển và tương tác sóng - bờ đảo qua các giai đoạn:

  • Các nghiên cứu quốc tế: Vấn đề tương tác giữa sóng và địa hình ven bờ bắt đầu từ các công trình kinh điển của Harrison (1848), Johnson (1919) về hiện tượng khúc xạ sóng (wave refraction do William Morris Davis đặt tên). O’Brien và Mason (1940), Văn phòng Thủy văn Hải quân Mỹ (1944) phát triển phương pháp vẽ đồ thị khúc xạ theo định luật Snell và nguyên lý Fermat. Về nhiễu xạ sóng nước, Penney và Price (1944) vận dụng nghiệm Sommerfeld, tiếp đó Putnam và Arthur (1948), Arthur (1951) phân tích sự thâm nhập của năng lượng sóng vào vùng khuất sau đảo do khúc xạ địa hình, khúc xạ dòng chảy, nhiễu xạ và tán xạ góc sóng. Cuối thập kỷ 1950, Pierson đưa lý thuyết phân tích phổ vào nghiên cứu sóng ngẫu nhiên. Tại Liên Xô, tác động của sóng lên đường bờ được nghiên cứu bởi Zenkovish (1950), Loginov, Leontriev và Pleshivtsev. Năm 1951, Beach Erosion Board (BEB) do J. Spencer Smith lãnh đạo và sau đó là Coastal Engineering Research Center (CERC) của quân đội Mỹ ban hành bộ cẩm nang kỹ thuật Shore Protection Manual (SPM 1975, 1977, 1984).
  • Các mô hình số trị quốc tế: Từ phương trình Mild-slope của Berkhoff (1972), mô hình RCPWAVE ra đời năm 1985. Bên cạnh đó là HINDWAVE (Viện Wallingford), MIKE 21 (Viện Thủy lực Đan Mạch - DHI), Phatos (Kostensen, 1986); các mô hình biến động đường bờ GENESIS (1989), UNIBEST (1990), LIPACK (1991), NPM (1993). Về tương tác sóng với đảo tròn, Chao và cộng sự (2006) mô phỏng sóng đơn chế độ 1 và 2 tương tác với đảo Dongsha (Biển Đông) có xét hiệu ứng Coriolis; Jia và cộng sự (2018) phân tích ảnh vệ tinh Envisat ASAR và TerraSAR-X khảo sát sự kết nối lại của sóng đơn nội tại hạ lưu đảo Dongsha.
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam: Các tác giả trong nước tập trung vào cửa sông ven bờ lục địa như GS. Lương Phương Hậu (1992, cửa Nam Triệu, Soài Rạp, Thuận An), PGS.TSKH. Nguyễn Văn Cư (luồng tàu Hải Phòng), PGS. Nguyễn Thọ Sáo (đề tài KT-03-14), GS.TSKH. Phạm Văn Ninh và TS. Nguyễn Mạnh Hùng (đề tài KHCN.06.07). Nghiên cứu về hải đảo chủ yếu là đề tài sinh thái và quy hoạch như GS. Lê Đức Tố (KC09-12, đề tài độc lập 2000/01), các công trình chống xói lở đảo Trường Sa của GS. Nguyễn Hoa Thịnh, PGS. Hoàng Xuân Lượng (1995–2005), cùng các khảo sát của Trịnh Việt An (1994–1996) và TS. Kiều Xuân Tuyền (2013–2015).

Khoảng trống mà luận án tập trung giải quyết: Các công trình tại Việt Nam trước đây chủ yếu dừng ở mức điều tra kinh tế sinh thái hoặc công trình bảo vệ bờ dạng kè cục bộ tại bờ đảo; chưa có công trình nào mô phỏng chi tiết trường sóng tương tác đầy đủ (khúc xạ, nhiễu xạ, phản xạ, sóng vỡ) quanh đảo Phú Quý bằng các mô hình số phân giải pha, cũng như chưa đánh giá định lượng hiệu quả giảm sóng của hệ thống đê giảm sóng bố trí quanh đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết thủy động lực học sóng biển:

  • Lý thuyết sóng Airy (1845): Sóng biên độ nhỏ trong chất lỏng lý tưởng hai chiều thỏa mãn phương trình Laplace, với hàm dao động mặt nước: $$\eta = \frac{H}{2} \cos\left[2\pi\left(\frac{x}{L} - \frac{t}{T}\right)\right]$$
  • Hiện tượng khúc xạ sóng: Xác định qua phương trình liên hệ tốc độ pha và bước sóng: $$\frac{c}{c_0} = \tanh(kh) = \frac{L}{L_0} \quad \text{và} \quad \frac{\sin\alpha}{\sin\alpha_0} = \frac{L}{L_0} = \frac{c}{c_0}$$
  • Hiện tượng sóng vỡ: Dựa trên tiêu chí độ dốc sóng nước sâu $H/L < 1/7$ và chỉ số sóng vỡ $\gamma = H/h = 0{,}78$ (thực tế dao động từ 0{,}2 tùy thuộc độ dốc đáy bãi), phân loại thành ba dạng sóng vỡ chính: sóng nhào, sóng đổ và sóng cuộn/lướt.
  • Hiện tượng phản xạ và nhiễu xạ sóng: Phản xạ tạo nên hệ sóng đứng tại các công trình tường đứng, nhiễu xạ bẻ cong tia sóng tại mũi đê và lan truyền năng lượng vào vùng khuất.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận tổng hợp (kinh tế, kỹ thuật, xã hội), tiếp cận bền vững (xét đến biến đổi khí hậu và nước biển dâng - BĐKH-NBD), và tiếp cận hiện đại.
  • Phương pháp viễn thám và GIS: Thu thập chuỗi ảnh vệ tinh (Landsat 8) giai đoạn 2000–2020; ứng dụng chỉ số thủy văn mNDWI (modified Normalized Difference Water Index) và WFI (Water Frequency Index) để trích xuất đường mép nước; sử dụng phần mềm DSAS (Digital Shoreline Analysis System) tính toán tốc độ dịch chuyển đường bờ theo chỉ số EPR (End Point Rate) và LRR (Linear Regression Rate) kèm khoảng tin cậy LCI90 và sai số tiêu chuẩn LSE.
  • Phương pháp mô hình toán: Sử dụng mô hình phổ sóng MIKE 21-SW mô phỏng trường sóng ngoài khơi truyền vào vùng nước nông ven bờ đảo; sử dụng mô hình Boussinesq MIKE 21-BW mô phỏng chi tiết sóng phi tuyến, tương tác sóng vỡ, phản xạ và nhiễu xạ qua công trình đê phá sóng; kết hợp tham khảo cơ sở lý thuyết mô hình X-Beach.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm gồm: Trạm đo sóng áp lực ngoài khơi P1 (chuỗi đo từ 18/12/2012 đến 03/01/2013), số liệu hoa sóng và tốc độ gió thống kê 40 năm (1979–2019) tại trạm khí tượng thủy văn Phú Quý, bình đồ độ sâu và số liệu đo đạc trắc dọc, trắc ngang bãi biển tại 24 mặt cắt ven đảo (MC1 đến MC24).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu tương tác giữa sóng và bờ đảo

Chương này hệ thống hóa lý thuyết về trường sóng và tổng kết thực trạng sạt lở, công trình bảo vệ bờ tại đảo Phú Quý.

Về thiệt hại thiên tai, số liệu thống kê cho thấy:

  • Từ năm 1978, tại thôn 4 và thôn 5 xã Tam Thanh, biển xâm thực đã phá hủy hoàn toàn 2 km đường giao thông ven bờ và cuốn trôi hơn 100 ngôi nhà của 3 dãy dân cư.
  • Năm 2003, sạt lở ảnh hưởng đến 6.000 hạng mục công trình.
  • Cơn bão số 9 năm 2006 gây thiệt hại nặng nề: 25 người chết, 3.090 căn nhà bị sập hoặc tốc mái, 104 phòng học bị hỏng, 180 ha cây công nghiệp lâu năm và 12 ha hoa màu bị phá hủy, 739 tàu thuyền hư hỏng, 476 ha nuôi trồng thủy sản và 700 m bờ biển bị phá hủy.
  • Tổng chiều dài sạt lở trên toàn đảo là 5.688 m, chiếm khoảng 1/4 chu vi đảo; tập trung tại thôn 2, thôn 3 (xã Ngũ Phụng), thôn 4, thôn 5, thôn 6 (xã Tam Thanh), và thôn 9, thôn 10 (xã Long Hải).
  • Tính toán xói lở dự báo trong văn bản nêu rõ: Sau 20 năm, diện tích đất mất là 0{,}4% diện tích đảo, nước biển lấn sâu 5{,}8 m; sau 50 năm mất 0{,}43%, lấn sâu 8{,}5 m; sau 70 năm mất 0{,}754 km² (4{,}49%), lấn sâu 15{,}8 m; sau 100 năm mất 0{,}81 km² (4{,}82%), nước biển lấn sâu vào đất đảo tới 47{,}5 m.

Luận án cũng tổng kết 4 dự án công trình bảo vệ bờ biển đã triển khai tại đảo:

Tên dự án Thời gian / Vốn đầu tư Quy mô kết cấu chính Đánh giá ưu / nhược điểm
Kè chống xâm thực ổn định bờ biển Phú Quý - Giai đoạn 1 2008–2010;
107 tỷ đồng
Chiều dài 1.443 m (đoạn DC thôn 5 Tam Thanh 395 m; đoạn BL Bãi Lăng 1.038 m). Mái kè lát cấu kiện TSC178 dày 33 cm; chân khay 2 hàng ống buy lục lăng đổ đá hộc; tường hắt sóng BTCT M300; mặt đường rộng 5 m bê tông M250. Kết cấu ổn định trên 10 năm, chi phí thấp; nhược điểm là bảo vệ trực tiếp, không tạo bãi và làm mất cảnh quan bãi tắm.
Kè chống xâm thực ổn định bờ biển Phú Quý - Giai đoạn 2 2012–2020;
596 tỷ đồng
Tuyến kè dài 2.999 m (4 phân đoạn: Triều Dương 264{,}09 m; Hội An 397{,}53 m; Chùa Thạch Lâm - UBND huyện 891{,}37 m; Bãi Lăng - Chùa Thạch Lâm 980 m) và 2 tuyến đê khu neo đậu dài 1.178 m (đê Tây 148{,}9 m, đê Đông 948{,}9 m). Đê đá đổ mái nghiêng phủ Tetrapod 3T. Kết hợp bảo vệ bờ và tạo vùng nước neo đậu cho tàu cá nhỏ; nhược điểm là kết cấu đê chỉ phù hợp vùng nước nông.
Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá huyện Phú Quý 2011–2020;
498 tỷ đồng
Vùng nước 35 ha cho tàu đến 1.000 CV. 2 tuyến đê dài 1.277 m (đê Tây 542 m, đê Đông 735 m). Đoạn gần bờ: đê đá đổ phủ Tetrapod; đoạn xa bờ: thùng chìm BTCT chia vách ngăn đổ cát lõi (kích thước thùng loại 1: 20 m x 8 m x H). Ổn định cao ở vùng nước sâu, tiết diện thu hẹp; nhược điểm là kỹ thuật và thiết bị thi công phức tạp, đòi hỏi độ chính xác cao.
Cải tạo đê chắn sóng cảng Phú Quý 2016–nay;
341 tỷ đồng
Phục vụ tàu 2.000 CV. 2 tuyến đê nối tiếp đê hiện trạng dài 334 m (đê Tây 267 m, đê Đông 67 m). Thùng chìm BTCT đổ cát lõi, khối phủ chân Tetrapod 10T, chân thùng gia cố khối bê tông đúc sẵn dày 60 cm. Gồm 3 loại thùng (15x9x8 m, 15x9x6{,}8 m). Nâng cao dung tích bến cảng và an toàn luồng tàu; kỹ thuật thi công đòi hỏi trình độ cao và phương tiện chuyên dụng.

Chương 2: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng biến động đường bờ dưới tác động của trường sóng quanh đảo Phú Quý

Chương này đánh giá các yếu tố tự nhiên và diễn biến xói bồi đường bờ:

  • Điều kiện khí tượng - hải văn: Chế độ gió phân thành mùa gió Đông Bắc (tháng 10 đến tháng 4 năm sau) và gió Tây Nam (tháng 5 đến tháng 9). Luận án tổng hợp bảng tốc độ và hướng gió chính (Bảng 2-1), bão qua đảo (Bảng 2-2), chiều cao sóng cực đại theo hướng (Bảng 2-3), chiều cao sóng trung bình và cực đại theo tháng (Bảng 2-4), và tần suất sóng giai đoạn 1980–2020 (Bảng 2-5).
  • Kết quả phân tích ảnh viễn thám giai đoạn 2000–2020 bằng DSAS: Đường bờ đảo được bóc tách từ ảnh Landsat 8 sử dụng chỉ số mNDWI và chỉ số WFI. Kết quả chỉ số EPR và LRR cho 3 xã (Tam Thanh, Ngũ Phụng, Long Hải) cho thấy sự tương quan chặt chẽ giữa hai phương pháp hồi quy, xác định các cung bờ bị xói lở mạnh tập trung ở bờ Đông, Đông Bắc và một phần bờ Tây Nam.
  • Kết quả đo đạc địa hình bãi: Khảo sát chi tiết tại các mặt cắt bãi biển (như MC1-1 bờ Tây, MC5-5 bờ Đông, và các mặt cắt bờ Bắc, bờ Nam) cho thấy sự biến đổi độ dốc bãi rõ rệt giữa các mùa; bờ Tây và Nam có độ dốc thoải hơn, trong khi bờ Đông và Bắc chịu tác động trực tiếp của sóng gió mùa Đông Bắc có độ dốc lớn và hiện tượng hạ thấp bãi bồi diễn ra mạnh.
  • Nguyên nhân gây xói lở: Luận án xác định nguyên nhân chính bao gồm tác động trực tiếp của năng lượng sóng trong vùng sóng vỡ, đặc điểm cấu tạo địa chất bờ đảo (đá bazan kết hợp cát san hô dễ bị xói trôi), cùng các hoạt động dân sinh như xây dựng ao hầm nuôi hải sản của người dân thôn Đông Hải và việc chắn giữ cát của các công trình cảng biển.

Chương 3: Cơ sở khoa học mô phỏng sóng lan truyền vào vùng bờ đảo và sự tương tác sóng với đảo Phú Quý

Nội dung chương tập trung thiết lập và kiểm định bộ mô hình toán:

  • Cơ sở lựa chọn mô hình: Do khu vực nghiên cứu có địa hình đáy phức tạp và có sự xuất hiện của các công trình biển, luận án lựa chọn phối hợp hai cấp mô hình: MIKE 21-SW mô phỏng trường sóng phổ quy mô lớn và MIKE 21-BW (mô hình Boussinesq hai chiều giải phương trình phân giải pha) mô phỏng chi tiết trường sóng vùng nước nông quanh đảo và tương tác với công trình.
  • Thiết lập lưới tính toán:
    • Mô hình MIKE 21-SW thiết lập trên lưới phi cấu trúc (tam giác), bao trùm vùng biển nước sâu quanh đảo Phú Quý, khai thác chuỗi số liệu gió và sóng thống kê 40 năm (1979–2019).
    • Mô hình MIKE 21-BW thiết lập trên lưới trực giao so le chi tiết, thu hẹp phạm vi vào sát bờ đảo nhằm mô tả chính xác tương tác sóng ngắn, sóng dài liên kết, quá trình sóng vỡ và các hiện tượng khúc xạ, nhiễu xạ, phản xạ quanh đảo.
  • Kiểm định mô hình: Sử dụng chuỗi số liệu đo sóng thực tế tại điểm P1 từ ngày 18/12/2012 đến ngày 03/01/2013. Kết quả so sánh giữa số liệu tính toán và số liệu thực đo cho thấy mô hình MIKE 21-SW đạt độ tin cậy cao, phản ánh sát thực tế chiều cao sóng có nghĩa ($H_s$) và chu kỳ đỉnh phổ ($T_p$), đủ điều kiện làm biên đầu vào cho mô hình vùng sát bờ.

Chương 4: Mô phỏng sóng trong bão thiết kế tương tác với đảo Phú Quý và đề xuất giải pháp giảm sóng phù hợp

Chương 4 tính toán các kịch bản thời tiết cực đoan và đưa ra phương án bảo vệ:

  • Các kịch bản sóng bão thiết kế:
    • Hướng Đông Bắc: Sóng trong trận bão thiết kế (tương đương bão cực đoan tần suất thiết kế $P%$).
    • Hướng Tây Nam: Sóng bão thiết kế với tần suất xuất hiện cực đoan $P = 2%$.
  • Kết quả mô phỏng hiện trạng (HT00): Mô phỏng xác định sự phân bố đường mặt nước và chiều cao sóng tại 24 mặt cắt trích xuất (MC1 đến MC24) quanh đảo. Chiều cao sóng ở bờ đón gió (phía Đông và Đông Bắc trong gió mùa Đông Bắc; phía Tây Nam trong gió mùa Tây Nam) tăng cao khi tiến vào vùng nước nông trước khi bị vỡ mạnh ở mép rạn bãi.
  • Đề xuất và lựa chọn giải pháp giảm sóng:
    • Luận án xem xét hai phương án bố trí mặt bằng tuyến đê: Hệ thống đê giảm sóng liên tục (HT01) và Hệ thống 11 đê giảm sóng phân đoạn (HT02).
    • Đánh giá đa tiêu chí lựa chọn cao trình đỉnh đê $Z_d$ qua 3 phương án: Đê nổi ($Z_d = +3{,}0$ m), đê sát mặt nước ($Z_d = +0{,}50$ m) và đê ngầm ($Z_d = -1{,}00$ m). Kết quả tính toán hệ số sóng truyền qua $K_t$ cho thấy phương án đê có cao trình đỉnh $Z_d = +0{,}50$ m và $Z_d = -1{,}00$ m mang lại hiệu quả tiêu hao năng lượng sóng tốt mà vẫn đảm bảo lưu thông nước và cảnh quan.
    • Kết cấu mặt cắt đê giảm sóng: Sử dụng đê đá đổ mái nghiêng, lớp phủ bảo vệ mái bằng khối Haro đúc sẵn, cơ chân đê đặt trên lớp đệm đá hộc nhằm chống xói chân công trình.
  • So sánh hiệu quả giảm sóng:
    • Mô phỏng trường sóng khi có hệ thống đê liên tục (HT01) và hệ thống đê phân đoạn (HT02) trong bão hướng Đông Bắc ($H_s = 2{,}5$ m; $T_p = 8$ s).
    • So sánh chi tiết các tham số chiều cao sóng $H_s$ và chu kỳ sóng tại các mặt cắt điển hình MC13 và MC14: Cả hai phương án đê đều làm giảm đáng kể chiều cao sóng truyền vào dải bờ so với hiện trạng (HT00); tuy nhiên, hệ thống đê phân đoạn (HT02) giúp trao đổi nước tốt hơn trong vùng đầm phá sau đê, hạn chế hiện tượng xói cục bộ tại các đầu đê liên tục.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt khoa học:

  • Ứng dụng thành công phương pháp viễn thám kết hợp các chỉ số nước (mNDWI, WFI) và công cụ DSAS để phân tích định lượng diễn biến xói bồi đường bờ đảo Phú Quý trong chuỗi thời gian dài 20 năm (2000–2020), làm sáng tỏ mối liên hệ giữa chế độ sóng và xu thế xói lở bờ biển đảo.
  • Thiết lập khung phương pháp tính toán mô phỏng liên kết giữa mô hình phổ sóng (MIKE 21-SW) và mô hình Boussinesq (MIKE 21-BW), mô tả chi tiết các hiện tượng thủy động lực học phức tạp (khúc xạ, nhiễu xạ, phản xạ, sóng vỡ) khi trường sóng lan truyền và tương tác với vùng bờ đảo ngoài khơi.

Về mặt thực tiễn:

  • Xác định được phạm vi không gian và các cung bờ bị xâm thực mạnh nhất quanh đảo Phú Quý (đặc biệt là khu vực bờ Đông và Đông Bắc), cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương quy hoạch bảo vệ đới bờ.
  • Đề xuất giải pháp công trình đê giảm sóng phù hợp: Lựa chọn hệ thống 11 đoạn đê giảm sóng tách bờ kết hợp khối phủ Haro bảo vệ mái, xác định cao trình đỉnh đê tối ưu nhằm giảm năng lượng sóng tác động trực tiếp vào bờ, bảo vệ ổn định đường bờ, hỗ trợ tôn tạo bãi biển và phục vụ các mục tiêu dân sinh, kinh tế, an ninh quốc phòng tại huyện đảo Phú Quý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Chuỗi số liệu đo đạc sóng thực tế tại trạm áp lực P1 còn ngắn (chỉ kéo dài từ ngày 18/12/2012 đến 03/01/2013), chủ yếu bao phủ thời kỳ gió mùa Đông Bắc, thiếu dữ liệu đo đạc thực địa liên tục trong mùa gió Tây Nam để kiểm định mô hình.
  • Mô hình Boussinesq (MIKE 21-BW) có yêu cầu rất cao về tài nguyên tính toán và mật độ mắt lưới, do đó phạm vi mô phỏng sóng phân giải pha chi tiết mới chỉ tập trung ở các phân vùng trọng điểm quanh bờ đảo.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tăng cường công tác quan trắc thực địa liên tục về sóng, dòng chảy và bùn cát quanh đảo Phú Quý trong cả hai mùa gió.
  • Mở rộng ứng dụng mô hình số trị để tính toán chi tiết bài toán vận chuyển bùn cát 3 chiều và diễn biến biến động bãi biển sau khi hệ thống đê giảm sóng phân đoạn được xây dựng trên thực tế.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và quy hoạch: Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận, Ủy ban Nhân dân huyện đảo Phú Quý, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Giao thông Vận tải trong việc lập quy hoạch công trình bảo vệ bờ biển, dự án chỉnh trang đê kè, cảng cá và công trình phòng chống thiên tai.
  • Kỹ sư và đơn vị tư vấn thiết kế: Cung cấp phương pháp luận lựa chọn thông số kỹ thuật đê ngầm/đê nhô giảm sóng, xác định cao trình đỉnh đê, hệ số truyền sóng $K_t$, và giải pháp kết cấu khối phủ Haro bảo vệ bờ đảo.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh: Cung cấp quy trình kết hợp mô hình viễn thám (DSAS, mNDWI) với bộ phần mềm MIKE (SW và BW) trong nghiên cứu động lực học bờ biển và công trình thủy công.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những công cụ viễn thám nào để phân tích biến động đường bờ đảo Phú Quý?
Luận án sử dụng chuỗi ảnh vệ tinh Landsat 8 giai đoạn 2000–2020, ứng dụng các chỉ số mNDWI (modified Normalized Difference Water Index) và WFI (Water Frequency Index) để bóc tách đường mép nước, sau đó sử dụng tiện ích DSAS của USGS để tính toán tốc độ biến động đường bờ theo các chỉ số EPR và LRR.

2. Tại sao luận án phải kết hợp cả hai mô hình MIKE 21-SW và MIKE 21-BW?
Mô hình MIKE 21-SW (mô hình phổ sóng) được sử dụng để mô phỏng sự lan truyền sóng trên diện rộng từ vùng nước sâu ngoài khơi vào ven bờ. Mô hình MIKE 21-BW (mô hình Boussinesq giải pha) được sử dụng thu hẹp cho vùng nước nông sát bờ đảo để mô phỏng chi tiết các quá trình sóng phi tuyến, khúc xạ, nhiễu xạ quanh đảo và tương tác sóng vỡ trực tiếp với công trình đê giảm sóng.

3. Tốc độ mất đất do xâm thực tại đảo Phú Quý được dự báo trong văn bản như thế nào?
Văn bản đưa ra các mốc dự báo: Sau 20 năm mất 0{,}4% diện tích đảo (nước biển lấn sâu 5{,}8 m); sau 50 năm mất 0{,}43% (lấn sâu 8{,}5 m); sau 70 năm mất 0{,}754 km², tương đương 4{,}49% diện tích đảo (lấn sâu 15{,}8 m); và sau 100 năm mất 0{,}81 km², chiếm 4{,}82% tổng diện tích toàn đảo (nước biển lấn sâu vào tới 47{,}5 m).

4. Luận án đề xuất giải pháp bố trí đê giảm sóng như thế nào?
Luận án đề xuất hệ thống 11 đê giảm sóng phân đoạn (kịch bản HT02) thay vì đê liên tục (HT01), sử dụng kết cấu đê đá đổ mái nghiêng với khối phủ bảo vệ Haro, lựa chọn cao trình đỉnh đê ở mức thích hợp ($Z_d = +0{,}50$ m hoặc $Z_d = -1{,}00$ m) để giảm tối đa chiều cao sóng vào bờ nhưng vẫn duy trì trao đổi nước và bảo tồn cảnh quan.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Mai Quang Khoát đã giải quyết bài toán tương tác sóng và bờ đảo tại huyện đảo Phú Quý thông qua việc tích hợp phương pháp phân tích ảnh viễn thám DSAS giai đoạn 2000–2020 và mô hình số trị thủy động lực học MIKE 21 (SW và BW). Các kết quả nghiên cứu đã làm rõ bức tranh biến động đường bờ đảo, xác định nguyên nhân sạt lở bờ và kiểm định trường sóng trong các kịch bản bão thiết kế hướng Đông Bắc và Tây Nam. Công trình đã đưa ra đề xuất giải pháp kỹ thuật hệ thống 11 đoạn đê giảm sóng tách bờ sử dụng khối phủ Haro, tạo lập cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, bảo vệ bờ đảo và phát triển bền vững kinh tế biển tại địa phương.