CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍ SÓ GIÁ VÀ CHÍ SÓ GIÁ SINH HOẠT THEO KHÔNG GIAN 1. Một số vấn đề chung về chỉ số giá 1. Khái niệm Chi 6 gid là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả chung của các loại hàng hóa và dịch vu theo thời gian và không gian. Ý nghĩa Chỉ số giá là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong cả vi mô và vĩ mô.
Trong vỉ mô Chỉ số giá là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất kinh doanh và người tiêu ding. Đối với các doanh nghiệp, mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận nên bắt cứ doanh. nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh cũng đều quan tâm đến các vấn đề như: lựa chọn mặt hàng, hạch toán chỉ phi, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doan] chỉ số giá là chỉ tiêu giúp các doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng kinh doanh và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhìn vào chỉ số giá có thể biết được tốc độ tăng giảm của giá cả các loại hàng hoá và dịch vụ.
Các doanh nghiệp thường so sánh tốc độ tăng giảm của giá cả các loại hàng hoá và dich vụ để lựa chọn mặt hàng kinh doanh sao cho có lợi nhất. Chỉ số giá giúp các doanh nghiệp đánh giá chính xác hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Thông qua chỉ số giá, doanh nghiệp biết được mức giá mà doanh nghiệp dự kiến có sát với giá cả thị trường hay không, từ đó có biện pháp điều chỉnh cho phủ hợp. Chỉ số giá có liên quan đến các quyết định đầu tư vào sản xuất kinh doanh của các chủ đầu tư.
Khi chỉ số giá tăng hoặc giảm nhiễu, thị trường giá cả bat ổn định, các chủ đầu tư trong và ngoài nước hạn chế đầu tư cho sản xuất kinh doanh vì mức độ rủi ro cao. Ngược lại, khi chỉ số giá giao động nhẹ, thị trường giá cả ôn định thì đầu tư cho sản xuất kinh doanh lại tăng lên. Đối với người tiêu dùng, họ sẽ theo dõi chỉ số giá để quyết định mua mặt hàng nào, thay thế tiêu dùng một mặt hàng nào đó bằng mặt hàng nào, với số lượng. bao nhiêu thì có lợi nhất.
Ngoài ra, dựa vào công thức: lãi thực = lãi suất tiền gửi - tỉ lệ lạm phát, người tiêu dùng sẽ xem xét có nên gửi tiền tiết kiệm hay không và gửi vào thời điểm nảo thì có lãi. Trong vĩ mô Chỉ số giá là chi tiêu phản ánh thực trạng của nền kinh tế, nhìn vào chỉ số giá ta có thể biết được thị trường giá cả có én định hay không. Khi chỉ số giá giao động nhẹ có nghĩa thị trường giá cả ôn định, mức độ rủi ro trong kinh doanh thấp, đầu tư tăng lên, sản xuất kinh doanh trong nước phát triển. Ngược lại, khi giá cả giao động mạnh, rủi ro trong kinh doanh lớn làm hạn chế đầu tư cho sản xuất kinh doanh dẫn đến chênh lệch giữa cung và cầu lớn, nền kinh tế bắt ổn định.
Chính phủ cũng như các cấp lãnh đạo từ trung ương đến địa phương luôn theo dõi chỉ số giá cả, nắm bắt kịp thời mức độ biến động của giá cả và đề ra các chính một cách có ý thức. Chỉ số giá là một trong những cơ sở để xây dựng kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế, đặc biệt là kế hoạch thu chỉ ngân sách, tài chính và ồn định giá cả: Đối với thu chỉ ngân sách, nhà nước ta luôn đặt ra mục tiêu tăng thu giảm chỉ và thực hiện chỉ ngân sách đạt hiệu quả. Căn cứ vào chỉ lá cả nhà nước ta tiến hành: + Khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực đem lại hiệu quả cao, hạn chế và khắc phục những lĩnh vực đầu tư kém hiệu quả. +_ Điều chỉnh giá đầu vào buộc các doanh nghiệp phải sử dụng tiết kiệm vật tư, tăng cường quản lí để giảm chỉ phí, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
+ Đổi mới chính sách thuế, chính sách xuất nhập khâu, kiên quyết chống. + Điề chinh tốc độ tăng lương phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát và tốc độ tăng năng suất lao động nhằm khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động. + Ding một phần ngân sách nhà nước để khuyến phát triển kinh tế miễn núi, nông thôn, nâng cao mức sống của họ, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Ôn định giá cả là một trong những mục tiêu lớn của nước ta.
Giá cả ổn định sẽ khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước. Căn cứ vào chỉ số giá, Chính phủ tiền hành nhiều biện pháp tác động đến giá cả thị trường như + Kiém chế và đây lùi lạm phát bằng việc quản lí chặt chẽ khối lượng tiền trong lưu thông. + Sử dụng quỹ bình ổn giá cả để hỗ trợ lãi vay ngân hàng, dự trữ lưu thông. hàng hoá đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu để giữ cho giá cả không xuống.
quá thấp khi trong mùa thu hoạch và quá cao khi giáp vụ. Hệ thống thông tin thống kê Giá tại Tổng cục Thống kê Việt Nam Hệ thống thông tin thống kê giá hiện nay bao gồm: (1) Giá tiêu dùng; (2) Giá sản xuất; (3) Giá hàng hóa giao dịch với nước ngoài. Hệ thống này được mô tả qua Bảng 1.1: Hệ Thống giá và chỉ số giá hiện nay do Tống cục Thống kê thực hiện + Chỉ số giá tiêu dùng + Chi số giá nguyên, nhiên, + Chỉ số giá xuất khâu (CPD) su ding cho sin xuất hàng hóa + Chỉ số giá sinh hoạt ⁄ + Chỉ số giá nhập khẩu theo không gian + Chỉ số giá sản xuất nông, hàng hóa. (SCOLD) lâm nghiệp và thủy sản + Ty gid thương mại + Lam phat co ban + Chỉ số giá sản xuất công.
nghỉ + Chỉ số gia dich vụ * Chỉ số giá cước vận tai kho bãi (VTKB) + Chỉ số giá bắt động sản + Chỉ số giá tiền lương, + Chỉ số giá xây dựng. Nguôn: Tổng cục Thống kê 1. Một số khái niệm Giá: Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa hay nói cách khác là số tiền phải trả hoặc nhận được khi mua hoặc bán một đơn vị hàng hóa, dịch vụ. Trong thống kê, dé thu thị thông tin về giá và tính chỉ số giá cần xác định rõ về các loại giá cần thu thập, cụ thể: v⁄_ Giá tiêu dùng: là giá do người tiêu dùng mua hàng hóa, chi trả cho các dịch vụ phục vụ trực tiếp cho đời sống hàng ngày.
Giá tiêu dùng là giá bán lẻ hàng. hóa, dịch vụ trên thị trường (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng - VAT) phục vụ sinh hoạt đời sống. Giá tiêu dùng không bao gồm gia dat, giá hàng hóa bán cho sản xuất và các công việc có tinh chat sản xuất kinh doanh. Giá sản xuất © Gid san xuất đầu ra: là giá mà người sản xuất nhận được khi bán hàng hóa, dịch vụ ra thị trường, kể cả bán tại nơi sản xuất hoặc nơi khác, không bao gồm VAT, không bao gồm phí lưu thông thương mại và cước vận tải nhưng bao gồm các khoản phụ thu các khoản giảm trừ nếu có.
Giá sản xuất đầu ra quy định là giá cơ bản. o Giá sản xuất u vỉ là giá mà người sản xuất phải trả để nhận được một đơn vị hàng hóa, dịch vụ nhằm đưa vào sản xuất tạo ra sản phẩm mới, bao gồm chỉ phí lưu thông nhưng không bao gồm VAT được khấu trừ. Giá sản xt đầu vào. quy định là giá sản xuất đầu vào: là mức giá đã bao gồm chỉ phí lưu thông và các loại phí khác, không bao gồm thuế VAT *⁄_ Giá xuất khẩu hàng hóa: là giá bán một đơn vị hàng hóa mà Việt Nam bán cho bạn hàng nước ngoài với điều kiện giao hàng tại biên giới Việt Nam (giá FOB và tương đương).
Giá xuất khẩu quy định tính bằng ngoại tệ *⁄_ Giá nhập khẩu hàng hóa: là giá một đơn vị hàng hóa Việt Nam mua của bạn hàng nước ngoài với điều kiện giao hàng tại bien giới Việt Nam (giá CIF và tương đương). Giá nhập khâu quy định tính bằng ngoại tệ. Chỉ số giá: là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá cả chung của các loại hàng hóa theo thời gian và không gian. Hầu hết các chỉ số giá trong Hệ thống thông tin thống kê giá là chỉ số giá theo thời gian, chỉ có một chỉ số giá theo không gian (SCOLI), 1.2 Mẫu điều tra giá Một trong những điểm đặc biệt của thống kê giá là dàn mẫu điều tra.
Có hai lại mẫu điều tra trong thống kê giá là mẫu mặt hàng (hàng hóa và dịch vụ) và mẫu mạng lưới điều tra. Các mẫu điều tra này được sử dụng có định trong một khoảng. *⁄_ Mẫu mặt hàng: là danh mục các hàng hóa và dịch vụ đại diện (tiêu dùng, sản xuất hoặc xuất, nhập khẩu) hay còn gọi là Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện hay là "rổ” hàng hóa. Mỗi loại hàng hóa và dịch vụ trong “rd” hàng hóa có quy.
cách phâm cấp cụ thể. Mỗi loại giá có một Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện khác nhau. *⁄_ Mẫu mạng lưới điều tra: là các địa bàn điều tra giá gồm các khu vực điều tra và đơn vị điều tra hoặc điểm điều tra đảm bảo đại diện thu thập được các mặt hàng trong *rổ” hàng hóa.3 Quyé Do mức tiêu dùng, sản xuất và xuất, nhập khẩu các hàng hóa, dich vụ là khác nhau do vậy để tính chỉ số giá đảm bảo phản ánh đúng mức độ biến động về giá cả nói chung của các hàng hóa và dịch vụ cần gia quyền thay đổi giá với quyền số các nhóm hàng tương ứng. Giống như Danh mục hàng hóa và dịch vụ đại diện, quyền inh chỉ số cũng được sử dụng trong một khoảng thời gian cố định (thường.
là 5 năm) và quyền số được tính cho các nhóm hàng tương ứng với các nhóm hang trong "rổ? hàng hóa. Với mỗi loại chỉ số giá khác nhau cần sử dụng một loại quyền số tương ứng như sau: v⁄_ Chỉ số giá tiêu dùng sử dụng quyền số là tỷ trọng chỉ tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ phục vụ đời sống hàng ngày của người dân trong tổng chỉ tiêu của dân cư. v⁄_ Chỉ số giá sản xuất sử dụng quyền số là tỷ trọng giá trị sản xuất của từng. nhóm sản pham đại diện so với tổng giá trị sản xuất của tất cả các ngành.