phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng, gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nguồn thu BHXHBB Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý nguồn thu BHXHBB của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nguồn thu BHXH của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ix z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1. Một số vấn đề cơ bản về bảo hiểm xã hội 1. Tính tất yếu cho sự ra đời của bảo hiểm xã hội Trong quá trình sinh tồn và trƣởng thành của mỗi con ngƣời, nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu nhất là ăn, ở, mặc, sinh hoạt, v., con ngƣời phải lao động để làm ra những của cải, cần thiết. Nhƣng trong thực tế, không phải lúc nào con ngƣời cũng gặp may mắn, thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thƣờng.
Trái lại, có rất nhiều trƣờng hợp khó khăn, trắc trở, rủi ro xảy ra do điều kiện tự nhiên, môi trƣờng sống, hoặc điều kiện xã hội làm con ngƣời bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sống khác nhƣ ốm đau, tai nạn, mất việc làm, mất ngƣời nuôi dƣỡng, già yếu, tử vong. Khi rơi vào các trƣờng hợp này, các nhu cầu cần thiết của cuộc sống không giảm đi mà còn tăng thêm, thậm chí còn phát sinh nhu cầu mới nhƣ thuốc men, chữa trị. Vì vậy, để vƣợt qua những khó khăn, để tồn tại con ngƣời đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau. Sự trợ giúp này là thụ động, không ổn định và không chắc chắn.
Vì vậy, đòi hỏi phải có sự trợ giúp có tổ chức, có quan hệ ràng buộc. Nhu cầu là bức bách, đặc biệt sau cuộc cách mạng công nghiệp. Quá trình công nghiệp hoá ở các nƣớc công nghiệp phát triển đã làm đội ngũ làm công ăn lƣơng tăng nhanh, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê mang lại. Sự hẫng hụt về tiền lƣơng khi bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, mất việc làm, già yếu.
luôn gây khó khăn đối với ngƣời không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lƣơng. Các cuộc đấu tranh của ngƣời lao động đòi giảm giờ làm, tăng tiền lƣơng và trợ cấp cho họ khi bị ốm đau, tai nạn, rủi ro. diễn 1 z ra ngày càng gay gắt ảnh hƣởng không nhỏ đến sản xuất, kinh doanh và trật tự, an toàn xã hội. Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên đƣợc thế giới quan niệm là BHXH đối với ngƣời lao động.
Nhƣ vậy BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia BHXHBB, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu của ngƣời lao động và đƣợc thừa nhận là nhu cầu tất yếu khách quan. Khái niệm về bảo hiểm xã hội BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với NLĐ thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết. Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các thân nhân trong gia đình NLĐ, để góp phần ổn định cuộc sống của bản thân NLĐ và gia đình, góp phần an toàn xã hội. Trên thế giới, BHXH ra đời cách đây hàng trăm năm và trở thành giải pháp hữu hiệu giúp con ngƣời vƣợt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống trong quá trình lao động.
BHXH trở thành nền tảng cơ bản của hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, đƣợc thực hiện ở hầu hết các nƣớc trên thế giới và ngày càng phát triển. Để đảm bảo quyền lợi cơ bản cho NLĐ trên toàn thế giới và an toàn xã hội, ILO ban hành Công ƣớc số 102 ngày 04/6/1952 về quy phạm tối thiểu an toàn xã hội, có quy định 09 chế độ trợ cấp gồm: chế độ chăm sóc y tế; chế độ trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; chế độ trợ cấp ốm đau; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp thất nghiệp; chế độ trợ cấp tàn tật; chế độ trợ cấp tuổi già; chế độ trợ cấp tiền tuất và chế độ trợ cấp gia đình [23]. Ở nƣớc ta, BHXH đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm từ khi bôn 2 z ba tìm đƣờng cứu nƣớc đến trƣớc lúc đi xa, Ngƣời đã nhiều lần đề cập đến cụm từ "BHXH" và khẳng định BHXH là một chính sách cơ bản đối với NLĐ. Từ năm 1995, cơ chế quản lý BHXH đƣợc đổi mới toàn diện bằng việc Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH, đặc biệt Luật BHXH đƣợc Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007.
Khi chƣa có Luật BHXH, khái niệm về BHXH đƣợc tiếp cận dƣới những góc độ khác nhau: - Dƣới góc độ chính sách: BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo NLĐ và bảo vệ sự phát triển kinh tế xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia. - Dƣới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nhà nƣớc để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ, ngƣời SDLĐ và Nhà nƣớc; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội. - Dƣới góc độ tài chính: BHXH là một qũy tài chính tập trung, đƣợc hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc. - Dƣới góc độ thu nhập: BHXH là sự bảo đảm thay thế một phần thu nhập khi NLĐ có tham gia BHXH bị mất hoặc giảm thu nhập.
- Theo Bộ Luật Lao động: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ, khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một qũy tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội [23]. Khái niệm về BHXH đƣợc khái quát một cách cao nhất, đầy đủ nhất khi có Luật BHXH, đó là: "BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần 3 z thu nhập của nguời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào qũy bảo biểm xã hội" [21]. Theo quy định của Luật thì BHXH bao gồm: - Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động phải tham gia. - Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà ngƣời lao động tự nguyện tham gia, đƣợc lựa chọn mức đóng và phƣơng thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hƣởng bảo hiểm xã hội.
Trong đề tài này, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu về BHXHBB không nghiên cứu về BHXH tự nguyện. Qũy bảo hiểm xã hội Qũy BHXH là qũy tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nƣớc. Qũy BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia bảo hiểm: NLĐ, ngƣời SDLĐ. Nhà nƣớc nhằm mục đích chi trả cho các chế độ BHXH, đảm bảo hoạt động của hệ thống BHXH [21].
Tuỳ từng nƣớc khác nhau mà việc quy định tỷ lệ đóng góp cũng khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay qũy BHXH đƣợc hình thành từ các nguồn chủ yếu sau đây: Qt BH = ĐLĐ + ĐSDLĐ+ ĐNN + TĐT + TTT +TK Trong đó : QtBH : Nguồn hình thành qũy bảo hiểm. ĐLĐ : Đóng góp của NLĐ ĐSDLĐ : Đóng góp của chủ sở hữu lao động ĐNN : Đóng góp và hỗ trợ của nhà nƣớc TĐT : Thu từ hoạt động đầu tƣ TTT : Thu từ viện trợ TK : Thu khác 4 z + Ngƣời SDLĐ đóng bằng 17% tổng qũy lƣơng của những ngƣời tham gia BHXHBB trong đơn vị trong đó 11% là để chi trả các chế độ hƣu trí, tử tuất và 5% để chi trả cho ba chế độ còn lại là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (Trƣớc đây ngƣời SDLĐ đóng 15%, NLĐ đóng 5% tổng qũy lƣơng ngƣời tham gia BHXHBB). Sự đóng góp của ngƣời SDLĐ vào qũyBHXH không những nhằm bảo vệ những khoản chi trả lớn, bất thƣờng cho NLĐ mà còn góp phần giảm bớt mâu thuẫn giữa họ và NLĐ vốn đã tồn tại từ bao đời nay.
[3] + NLĐ đóng 7% lƣơng tháng để chi trả cho các chế độ hƣu trí và tử tuất. Sự tham gia đóng góp này của NLĐ thể hiện sự tự bảo vệ mình. + Nguồn từ NSNN hỗ trợ thêm để đảm bảo cho việc thực hiện các chế độ BHXHBB cho NLĐ + Ngoài ra qũy còn đƣợc bổ sung thêm do lãi đầu tƣ quỹ nhàn rỗi đem lại, sự hỗ trợ của các tổ chức trong và ngoài nƣớc và các khoản thu khác. Từ các nguồn thu này, qũy BHXH sẽ đƣợc sử dụng vào các mục đích cụ thể nhƣ: - Chi trả các khoản trợ cấp BHXH cho NLĐ theo quy định của Luật BHXH.
- Chi phí quản lý qũy BHXH bao gồm: chi phí hành chính, chi lƣơng, khấu hao tài sản cố định, các khoản chi sự nghiệp khác theo quy định hiện hành. - Chi khen thƣởng ngƣời SDLĐ thực hiện tốt công tác bảo hộ lao động, phòng ngừa TNLĐ-BNN, chi dự phòng… theo quy định của Nhà nƣớc. - Đầu tƣ để bảo toàn và tăng trƣởng qũy theo quy định của Luật BHXH. Hiện nay qũy BHXH đƣợc chia thành ba thành phần đó là: + Qũy ốm đau, thai sản.
+ Qũy hƣu trí, tử tuất. Qũy BHXHBB ở nƣớc ta đƣợc tổ chức theo nguyên tắc tập trung, tạo lập một qũy tiền tệ chung. Do đó, vấn đề quản lý qũy sao cho đảm bảo quyền lợi của tất cả các thành viên tham gia đóng góp là rất quan trọng. Đặc biệt, công tác quản lý thu BHXHBB hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập cần phải giải quyết, có biện pháp xử lý triệt để.