CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận về Bảo hiểm xã hội, quản lý thu Bảo hiểm xã hội. Khái niệm Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia. BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ XIX, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu.
Từ năm 1883, ở nước Phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành Luật BHXH. Một số nước châu Âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH. Tuy ra đời lâu như vậy nhưng khái niệm về BHXH cho đến nay vẫn chưa được sử dụng thống nhất, ở mỗi cách tiếp cận khác nhau, người ta “nhận diện” BHXH theo cách riêng. Trong số đó, khái niệm BHXH nêu trong Từ điển Bách khoa Việt Nam và trong Luật BHXH Việt Nam được coi là phù hợp nhất với các đối tượng nghiên cứu về BHXH ở Việt Nam.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội". Theo Luật BHXH của Việt Nam: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”. Để có một khái niệm thống nhất trong việc nghiên cứu BHXH tại Việt Nam, trên phương diện lý thuyết BHXH được khái quát như sau: BHXH là phương pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua việc tạo lập quỹ tài chính BHXH, nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết. 5 Với khái niệm BHXH như trên ta có thể tiếp cận về BHXH trên cả phương diện kinh tế và phương diện xã hội.
Về mặt bản chất BHXH là “bù đắp” khoản thu nhập bị giảm hoặc mất của NLĐ tham gia BHXH. Bảo hiểm xã hội được chia làm 2 loại: (1). Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia (Khoản 2 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014). Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất ( Khoản 3 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014).
Như vậy bản chất của bảo hiểm xã hội là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa. Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống bảo hiểm xã hội có điều kiện ra đời phát triển. Thực chất bảo hiểm xã hội là sự tổ chức bù đắp hậu quả của những rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm. Quản lý thu Bảo hiểm xã hội.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có tính pháp lý của cơ quan Nhà nước nhằm đạt được hiệu quả bằng các biện pháp: pháp luật nhà nước, hành chính, tổ chức kinh tế. Thu BHXH là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng tham gia phải đóng BHXH theo mức phí qui định hoặc cho phép những đối tượng tự nguyện tham gia được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bản cho việc chi trả các chế độ BHXH và hoạt động của tổ chức sự nghiệp BHXH đó (theo Giáo trình Quản trị BHXH) Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập của các đối tượng tham gia BHXH, phân phối và phân phối lại một phần của cải của xã họi dưới dạng giá trị, nhằm giải quyết hài hòa các mặt lợi ích kinh tế, góp phần đảm bảo sự công bằng xã hội. (Giáo trình Quản trị BHXH, trang 77, 78) 6 Từ hai khái niệm trên ta có thể đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về quản lý thu BHXH: Quản lý thu Bảo hiểm xã hội “được hiểu là sự tác động có tổ chức của các chủ thể quản lý để điều chỉnh các hoạt động thu BHXH.
Sự tác động đó được thực hiện bởi hệ thống các biện pháp hành chính, kinh tế và pháp luật nhằm đạt được muc đích thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và không để thất thu tiền đóng BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH” (Giáo trình Quản trị BHXH, trang 79) * Nguyên tắc quản lý thu Bảo hiểm xã hội: Một là, đảm bảo thu đúng, đủ, kịp thời: - Thu đúng, là đúng đối tượng, đúng mức, đúng tiền lương, tiền công và đúng thời gian quy định: mọi NLĐ khi có HĐLĐ hoặc giao kết lao động theo quy định, được trả công bằng tiền đều là đối tượng đóng BHXH bắt buộc. - Thu đủ, là thu đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số tiền phải đóng BHXH của NLĐ, NSDLĐ. - Thu kịp thời, là thu kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động, tiền công, tiền lương mà những quan hệ đó thuộc đối tượng, phạm vi tham gia BHXH. Ở mỗi thời điểm thay đổi đó cần phải tổ chức thực hiện thu BHXH của NSDLĐ và NLĐ đảm bảo kịp thời, không để tồn đọng tiền thu, không bỏ sót lao động tham gia BHXH.
Hai là, đảm bảo tập trung, thống nhất, công bằng, công khai. Cơ chế thu BHXH được quy định thống nhất, nguồn thu BHXH tập trung quản lý, điều tiết ở Trung ương là BHXH Việt Nam. Việc tham gia BHXH của NLĐ, NSDLĐ đảm bảo công khai, thực hiện công bằng ở các thành phần kinh tế. Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai minh bạch số lao động phải đóng BHXH và số tiền đóng theo đúng quy định, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm soát của Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng và các tổ chức chính trị - xã hội.
Tính công bằng được thể hiện trong việc thu nộp BHXH, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tức là đều có tỷ lệ phần trăm thu BHXH như nhau. Ba là, đảm bảo an toàn, hiệu quả. Thực hiện quản lý chặt chẽ tiền thu BHXH theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước và sử dụng nguồn thu đúng mục đích. Nguồn thu BHXH do được tồn tích cộng đồng, nên thường có khối lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn chưa sử dụng cần được đầu tư tăng trưởng, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng, vừa an toàn tiền thu BHXH về mặt giá trị do các yếu tố trượt giá.
Vì vậy, 7 thông qua cơ chế quản lý nghiêm ngặt về thu BHXH để tránh lạm dụng, thất thoát; đồng thời nghiên cứu các lĩnh vực đầu tư để đảm bảo thu hồi được vốn và có lãi, tức là hiệu quả sử dụng nguồn thu. Vai trò, bản chất, chức năng của quản lý thu Bảo hiểm xã hội 1. Vai trò quản lý thu đối với công tác thu Bảo hiểm xã hội: Tạo sự thống nhất trong quản lý, nắm chắc được các nguồn thu BHXH. Trên cơ sở các nguồn thu như: nguồn đóng BHXH của người lao động tham gia BHXH; nguồn đóng BHXH của chủ sử dụng lao động; tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư tăng trưởng; nguồn hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn khác như viện trợ, biếu tặng,… của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, hoạt động quản lý thu BHXH sẽ có các biện pháp tăng cường công tác quản lý thu chặt chẽ , đảm bảo thu đúng, thu đủ.
Tăng thu, bảo đảm ổn định, bền vững cân đối quỹ BHXH. Cụ thể là việc thực hiện tăng số người tham gia đóng BHXH, thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo thu đúng thời gian qui định. Bằng việc kết hợp các biện pháp quản lý thu khoa học, biện pháp hành chính cứng rắn sẽ hạn chế tình trạng nợ đọng, chậm đóng từ đó góp phần tăng hiệu quả quản lý thu. Đảm bảo quyền lợi người tham gia BHXH.
Vai trò này được thể hiện trên hai nội dung: Thứ nhất, là bảo vệ quyền lợi người lao động trong các đơn vị được tham gia BHXH, nếu có trường hợp doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm, BHXH sẽ có biện pháp tác động hạn chế tình trạng trên, đảm bảo quyền lợi người lao động. Thứ hai, khi quỹ BHXH mất cân đối sẽ được BHXH trợ cấp kịp thời góp phần ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ. Kiểm tra đánh giá hoạt động thu. Thu BHXH là một nội dung của tài chính BHXH mà thông thường bất kỳ hoạt động liên quan đến tài chính đều rất dễ mắc phải tình trạng gây thất thoát, vô ý hoặc cố ý làm sai.
Vì vậy, với nhiệm vụ người quản lý phải đảm nhiệm đó là: kiểm tra hoạt động thu BHXH được đánh giá một cách kịp thời và toàn diện. Nhờ có hoạt động quản lý sát sao mà công tác kiểm tra, đánh giá luôn sát thực tiễn, quá trình thu, hoạt động thu sẽ được điều chỉnh kịp thời sau khi có sự đánh giá. Ở tầm vĩ mô khi quản lý thu được thực hiện tốt số thu lớn hơn số chi, quỹ BHXH sẽ đầu tư lượng tiền nhàn rỗi theo quy định của Chính phủ sẽ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bản chất của quản lý thu bảo hiểm xã hội.
Thứ nhất, BHXH góp phần trợ giúp NLĐ gặp rủi ro (ốm đau,TNLĐ-BNN, thất nghiệp,.) sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu và sớm có việc làm trở lại. Theo quy định của BHXH thì NLĐ khi có việc làm sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng.