CHƯƠNG 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHE ĐỘ BẢO HIỂM THAT NGHIỆP Ở TRUNG QUOC 1. KHÁI NIỆM THAT NGHIỆP VÀ CHE DO BẢO HIEM THAT NGHIỆP Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế xã hội tồn tại ở hầu hết các quốc gia khi phát triển theo mô hình kinh tế thị trường. Nhưng mỗi quốc gia lại có cái nhìn khác nhau về thất nghiệp.
Chăng hạn ở một số nước phát triển, họ định nghĩa thất nghiệp dựa trên kết quả điều tra xã hội học. Ở Nhật, dựa vào kết quả điều tra sức lao động, họ cho rằng những người không có việc làm trong tổng số lao động được điều tra, đang tiến hành tìm việc, từ 15 tuổi trở lên va có năng lực làm việc, bao gồm cả những người chờ kết quả tìm việc trước đây thì được coi là thất nghiệp. Hay ở Mỹ, cũng dựa vào kết quả điều tra sức lao động, ho cho răng những người không có việc làm trong tổng số lao động được điều tra và tiến hành tìm việc trong vòng 4 tuần (kế cả tuần điều tra), ở độ tuôi lao động trên 16, bao gồm cả những công nhân tạm thời nghỉ việc va người chờ việc trong khoảng 30 ngày thì được xếp vào diện thất nghiệp. Còn ở Đức, người ta dựa vào thong kê nghiệp vụ của tổ chức giới thiệu việc làm, cho rằng những người đăng ký tìm việc tại trung tâm môi giới việc làm với hy vọng tìm được việc trong thời gian từ 19 tiếng đến 3 tháng và có năng lực làm việc thì được coi là thất nghiệp [87,288].
Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình trạng một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thê tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành. Như vậy, thất nghiệp có thể hiểu là tình trạng phát sinh khi “tổng cung về lao động của những người lao động muôn làm việc với mức tiên lương danh nghĩa tại một thời Nguyễn Mai Phương 8 Chế độ bảo hiểm that nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có” [10,194]. Còn theo giải thích mới nhất của Bộ Lao động và An sinh xã hội Trung Quốc, tiêu chuẩn đánh giá thất nghiệp là những người trong độ tudi lao động theo quy định (từ 16 tuổi đến tuổi nghỉ hưu), có năng lực lao động, có nguyện vọng được sắp xếp công ăn việc làm nhưng lại rơi vào tình trạng không có việc để làm, hoặc tuy có công việc nhưng mức thi lao thấp hơn tiêu chuẩn bao đảm mức sống tối thiểu của người dân tại thành phố thuộc khu vực đó thì được coi là thất nghiệp [89,1]. Ngoài ra, dựa vào đặc thù tình hình lao động và việc làm trong nước, thất nghiệp ở Trung Quốc còn mang đặc sắc riêng.
Đó là người thất nghiệp ở Trung Quốc là những lao động ở thành phó, thị trấn, không làm nông nghiệp, không bao gồm lao động nông thôn, do đó, lao động từ nông thôn vào thành phố làm thuê không nằm trong diện thống kê thất nghiệp, và nông dân càng không thé tồn tại van dé thất nghiệp. Bên cạnh đó, ở Trung Quốc còn tôn tại một hiện tượng thất nghiệp riêng biệt, đó là thất nghiệp “hạ cương”. Đây là hiện tượng thất nghiệp tạo bởi một sé lượng lớn công nhân viên chức bị sa thải khỏi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thé ở thành phố và các thành phần kinh tế khác sau khi Trung Quốc cải cách thể chế kinh tế thị trường, đặc biệt là trong quá trình cải cách doanh nghiệp. Từ sự khác biệt về định nghĩa thất nghiệp của mỗi nước, phân định của Tổ chức Lao động quốc tế đối với thất nghiệp và nhận định của lãnh dao Trung Quốc về thất nghiệp cho thấy, tiêu chuẩn phân định thất nghiệp cần được tiến hành dựa vào tình hình công việc và tình hình của mỗi người lao động.
Do đó, chủ thé của thất nghiệp cần có ba điều kiện: có năng lực lao động; có nguyện vọng làm việc; hiện tại không có việc làm. Tóm lại, có thé định nghĩa cơ bản về thất nghiệp như sau: thất nghiệp là hiện tượng xã hội chỉ những người trong độ tuổi lao động, có năng lực lao động, có nguyện vọng tìm việc nhưng chưa tìm được và bi mat cơ hội việc làm. Nguyễn Mai Phương 9 Chế độ bảo hiểm that nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay Hiểu được khái niệm thất nghiệp, chúng ta sẽ có cái nhìn chính xác về chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Bảo hiểm thất nghiệp được định nghĩa là một chế độ được thực hiện bằng Sự cưỡng chế luật pháp của nhà nước, trong đó xã hội tập trung xây dựng quỹ, mục đích giúp đỡ về vật chất những người lao động thất nghiệp tạm thời không có nguồn sống, bảo đảm đời sống cơ bản cho họ, đồng thời tạo điều kiện tái tạo việc làm cho họ thông qua bồi dưỡng chuyên nghiệp, giới thiệu việc làm [89,10].
Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những bộ phận quan trọng tạo nên hệ thống an sinh xã hội và là một trong những hạng mục chủ yếu của bảo hiểm xã hội. Nhiệm vụ cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp là bảo đảm đời sống cơ bản của người lao động tạm thời rơi vào tình trạng thất nghiệp, đồng thời thông qua bồi dưỡng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp nhanh chóng tìm được việc làm mới. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, hiện tượng thất nghiệp là không tránh khỏi, người thất nghiệp tách khỏi vị trí công việc nghĩa là đã mat nguôn thu và mat việc, có nghĩa là không còn cách nào bảo đảm đời sống cơ bản, không được xã hội và mọi người thừa nhận, lâu dần người thất nghiệp sẽ mất lòng tin vào bản thân, thậm chi đi vào con đường phạm tội. Đề người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ tạo điều kiện để họ duy trì đời sống trong thời gian chưa tìm được việc làm.
Sở đĩ người ta hay gọi bảo hiểm thất nghiệp là “vũ khí giảm chấn động” và “mạng lưới an toàn” [89,10] của hiện tượng thất nghiệp vì nó có hai chức năng trên. CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAT NGHIỆP Nhìn một cách tổng quan, chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Trung Quốc đã được hình thành, phát triển và hoàn thiện trên cơ sở kế thừa có chọn lọc hệ thống lý luận bảo hiém thất nghiệp của phương Tay. Xin điểm qua một số ly luận ở phương Tây có ảnh hưởng lớn tới sự hình thành bảo hiểm thất nghiệp của Trung Quoc: Nguyễn Mai Phương 10 Chế độ bảo hiểm that nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay Thứ nhất là chủ nghĩa lịch sử mới (hay còn gọi là học phái lịch sử mới của Đức). Đây là một học phái rất thịnh hành ở nước Đức, sau đó lan rộng toàn Châu Âu từ những năm 70 của thế kỷ XIX đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đại điện là các tên tudi Gustavus Smouller, Adolf Wagner, Ludwig Brenta.
Ho chủ trương, nha nước không chỉ thực hiện chức nang ồn định trật tự trong nước và phát triển quyền lực quân sự quốc gia, mà cần phải có chức năng quản lý đời sống kinh tế, phải thực hiện chức năng quản lý kinh tế và gánh nhiệm vụ thúc đây “văn minh và phúc lợi”. Lúc bấy giờ, nguy cơ lớn nhất trong xã hội nước Đức là vấn đề lao động. Do đó, họ cho rằng, nhà nước phải thực hiện các biện pháp, chính sách xã hội theo pháp luật như bảo hiểm xã hội, cứu trợ người già, trẻ em, hợp tác lao động và vốn, thực hiện cải cách kinh tế và xã hội từ trên xuống dưới. Lý luận của họ nhận được sự đồng tình trong nước.
Vì thế, quan điểm lý luận cũng như chủ trương về bảo hiểm xã hội của họ được thực hiện ở Đức. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, sự ra đời của bảo hiểm thất nghiệp ở Đức chính là bước phát triển tiếp theo của chủ trương chủ nghĩa lịch sử mới. Chủ trương nay không chỉ được thực hiện ở Đức mà sau này còn được tiến hành ở các nước tư bản chủ nghĩa khác [28,8]. Thứ hai là học phái kinh tế phúc lợi.
Học phái này rất được thịnh hành ở nước Anh từ những năm 20 của thé ky XX, đại diện chủ yếu là nhà kinh tế học người Anh Pigou. Học phái kinh tế học nhân mạnh đến việc tăng nhanh phúc lợi thông qua tái phân phối thu nhập quốc dân và tăng thu nhập quốc dân. Mau chốt của tăng thu nhập quốc dân là yếu tố sản xuất phân phối hợp lý, trong đó quan trọng nhất là yếu tố sức lao động. Mà muốn phân bố hop lý sức lao động thì phải cải thiện điều kiện sống và tình hình phúc lợi của người lao động, giúp đỡ về vật chất và phục vụ đời sống đối với các trường hợp người bệnh tật, tàn tật, sinh đẻ, thất nghiệp, già yếu, tử vong [28,8].
Bảo hiểm thất nghiệp ngày nay đã áp dụng một trong những nguyên tắc cơ bản đó, đó là Nguyễn Mai Phương 11 Chế độ bảo hiểm that nghiệp ở Trung Quốc từ năm 1992 đến nay nguyên tắc mang tính công bằng, suy đến cùng đó là kinh tế học phúc lợi- tức là thực hiện phương châm phát triển kinh tế nhưng luôn duy trì công bằng xã hội. Vì thế, chủ trương của học phái kinh tế phúc lợi đã trở thành cơ sở lý luận dé thực hiện chính sách phúc lợi phố biến không chỉ ở Anh mà còn ở một số nước khác, nó góp phần thúc đây xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở những quốc gia theo đuôi chính sách này. Thứ ba là kinh té học chủ nghĩa Keynes. Ong chủ trương lay “quản lý nhu cầu” làm nền tảng để xây dựng lý luận kinh tế an sinh xã hội.
Ông cho rằng, ở phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhu cầu quyết định yếu tố nguồn cung. Vì thế, chỉ cần tìm cách nâng cao nhu cầu về vốn và nhu cầu hiệu quả của người dân một cách hiệu quả, làm cho nhu cầu của xã hội được nâng cao hiệu quả thì có thể kích thích tăng đầu tư, tăng nguồn cung, tăng sản xuất, thực hiện việc làm đầy đủ. Nâng cao hiệu quả nhu cầu về vốn tức là thực hiện chính sách nhà nước tham gia vào hoạt động kinh tế, tăng cường chi tiêu tài chính, xây dựng cơ sở hạ tầng. Còn nâng cao hiệu quả nhu cầu người dân chính là tăng dân số và nâng cao mức sống, nâng cao mức sống chính là phải tăng mức độ lớn phúc lợi đời sống, mở rộng phúc lợi xã hội.