Chương 1 Tổng quan về nghiên cứu. Chương 2 Cơ sở lý luận về quản tri nguồn nhân lực, sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức và mô hình nghiên cứu. Chương 3 Phương pháp nghiên cứu. Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị Luan van 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC, SỰ GẮN KẾT CỦA NHÂN VIÊN ĐỐI VỚI TỔ CHỨC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày cơ sở lý luận, các vấn đề về nguồn nhân lực, thực tiễn quản trị nguồn nhân lực, thự tiễn quản trị nguồn nhân lực và sự gắn kết với tổ cức; qua đó xác định các thành phần nghiên cứu, các biến nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu và xác định các giả thuyết nghiên cứu.1 Khái niệm nguồn nhân lực: Tùy theo cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau mà có cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là tiềm năng lao động của con người các mặt số lượng, cơ cấu(ngành nghề và trình độ đào tạo, cơ cấu theo vùng miền, ngành kinh tế) và chất lượng, bao gồm phẩm chất và năng lực ( trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương hay ngành, và năng lực cạnh tranh trong phạm vi quốc gia và thị trường lao động quốc tế. Một cách tổng quát, nguồn nhân lực của một tổ chức, doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.(Trần Kim Dung.2 Thực tiễn quản trị nguồn nhân lực: 2. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực: Khái niệm quản trị nguồn nhân lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau bởi nhiều tác giả và các nghiên cứu khác nhau.
Quản trị nguồn nhân lực là khoa học về quản lý con người dựa trên niềm tin cho rằng nhân lực đóng vai trò quan trọng bậc nhất tới sự thành công lâu dài của tổ chức hay doanh nghiệp. Một tổ chức, doanh nghiệp có thể tăng lợi thế cạnh tranh của mình sử dụng người lao động một cách hiệu quả, tận dụng kinh nghiệm và sự khéo léo của họ nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra. Quản trị nhân sự nhằm mục đích tuyển dụng được những người có năng lực, nhanh nhẹn và cống hiến trong công việc, quản lý hoạt động và khen Luan van 7 thưởng kết quả hoạt động cũng như phát triển năng lực của họ (A. Wayne và Noe.
Định nghĩa một cách tóm tắt rằng QTNNL liên quan đến chính sách, thực tiễn, và hệ thống ảnh hưởng hành vi, thái độ và kết quả thực hiện của nhân viên. Có tính khái quát và cụ thể nên được sử dụng cho nghiên cứu này. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau thùy theo góc độ tiếp cận nghiên cứu, nhưng ta có thể thấy được hai mục tiêu cơ bản QTNNL mà định nghĩa đề cập đến là: - Sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả. - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với tổ chức.2 Các thành phần của thực tiễn quản trị nguồn nhân lực: Ngoài các chức năng nghiệp vụ chính của QTNNL, tùy theo mục đích nghiên cứu, đặc trưng văn hóa của các vùng, ngành nghề, giới tính, thâm niên công tác, v,v.
các nghiên cứu thực tiễn QTNNL có thể bao gồm những thành phần khác như: làm việc nhóm và giao tiếp(Ichiniowski, Shaw và Prennushi.(1995); thu hút nhân viên tham gia tích cực vào các hoạt động (Singh. - Nghiên cứu nổi tiếng của Pfeffer. Đề xuất 7 thực tiễn: (1) bảo đảm ổn định trong công việc(nhân viên không bị mất việc); (2) tuyển chọn nhân viên mới; (3) đội tự quản và phi tập trung trong công việc ra quyết định; (4) mức đãi ngộ (lương thưởng) tương đối cao theo kết quả; (5) mở rộng đào tạo; (6) giảm khoảng cách về chức vụ, và các rào cản như giảm khoảng cách về tiền lương; (7) mở rộng việc chia sẻ thông tin và kết quả tài chính trong tổ chức. Thực tiễn quản trị nguồn nhân lực của Ấn Độ gốm có 7 thành phần với những nội dung chính: Xác định công việc, tuyển dụng, đào tạo , đánh giá nhân viên, hoạch định nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến, thu hút nhân viên tham gia tích cực vào hoạt động, đãi ngộ về lương, thưởng.
Luan van 8 Theo mô hình nghiên cứu của Morrison. Thực tiễn quản trị nguồn nhân lực gồm 6 thành phần: Triết lý về nguồn nhân lực; tuyển chọn; xã hội hóa; đào tạo; đánh giá và phần thưởng; quy tắc, mô tả công việc. - Theo mô hình nghiên cứu của Sing và các công sự (2005). Thực tiễn quản trị nguồn nhân lực gồm 11 thành phần: Tuyển dụng; tính linh hoạt làm việc nhóm; xã hội hóa; thăng tiến nội bộ; sự an toàn trong công việc; sự tham gia của nhân viên; vai trò của nhân viên; cam kết học tập; trả công lao động; quyền sở hữu của nhân viên; sự hòa hợp.
- Trần Kim Dung. Đã đề nghị thực tiễn quản trị nguồn nhân lự trong các công ty Việt Nam có 9 thành phần. Ngoài 6 thành phần căn bản thuộc các chức năng nghiệp vụ chính của quản trị nguồn nhân lực: xác định nhiệm vụ, công việc; thu hút, tuyển chọn; đào tạo; đánh giá kết quả làm việc của nhân viên; quản lý lương thưởng; phát triển quan hệ lao động; còn có 3 thành phần: thống kê nhân sự; thực hiện quy định Luật pháp; và khuyến khích thay đổi.1 cho thấy lý thuyết quản trị nguồn nhân lực của hai tác giả Singh (2004) và Trần Kim Dung (2009). Đưa ra cơ bản và phù hợp với tình hình thực tế của BHXH Tiền Giang.1: Tóm tắt các thành phần thực tiễn QTNNL Pfeffer Singh Singh và Trần Kim (1998) (2004) cộng sự Dung (2005) (2005) Xác định nhiệm vụ, công việc x x Thu hút, tuyển chọn x x x x Đào tạo x x x x Đánh giá kết quả làm việc x x Lương thưởng x x x x Phát triển quan hệ lao động x x Hoạch định nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến x x Luan van 9 Thống kê nhân sự x Thự hiện quy định của luật pháp x Thu hút nhân viên tham gia vào các hoạt động x x x x Bảo đảm ổn định công việc x x Giảm khoảng cách về chức vụ, tiền lương x x Chia sẻ thông tin và kết quả tài chính x x Vai trò nhân viên x Tính linh hoạt/làm việc nhóm x 2.3 Lý thuyết về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức: 2.1 Định nghĩa: Có rất nhiều những ý kiến khác nhau về định nghĩa sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức, tùy vào cách tiếp cận của từng tác giả cũng như mục đích nghiên cứu.
Do đó không có sự nhất trí về định nghĩa cũng như đo lường về sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức. Mowday và cộng sự. [22] lại đưa ra nhận định sự gắn kết với tổ chức là sức mạnh tương đối về sự đồng nhất của nhân viên với tổ chức và sự tham gia tích cực của nhân viên trong một tổ chức nhất định. Theo đó, sự gắn kết bao gồm sự đồng nhất, sự cố gắng và lòng trung thành.
Khái niệm này nói đến mối quan hệ tích cực với tổ chức khiến họ luôn sẵn sàng đầu tư công sức để đóng góp cho sự thành công và phát triển của tổ chức. Do vậy, sự gắn kết không chỉ xuất phát từ niềm tin và lời nói của nhân viên mà còn từ hành động thiết thực trong công việc. Theo Meyer J và Allen,N. [24] cho rằng sự gắn kết là trạng thái tâm lý thể hiện mối quan hệ của cá nhân với tổ chức.
Sự gắn kết như là một trạng thái tâm lý buộc chặt cá nhân vào tổ chức, phản ánh nhận thức của người lao động về sự mất mát mà họ phải gánh chịu nếu họ rời khỏi tổ chức. Còn theo O’reilly, C và Chatman,J. [26] cho rằng sự gắn bó với tổ chức là lời hứa của cá nhân với tổ chức bao gồm ý thức gắn bó với công việc, lòng trung thành và niềm tin về các giá trị với tổ chức. Theo quan điểm này, sự gắn bó với tổ chức thể hiện ở ba khía cạnh: Luan van 10 - Sự tuân thủ (Compliance): Sự lôi cuốn vì những phần thưởng đặc biệt.
- Sự đồng thuận (Identification): Sự gắn bó vì mục tiêu của tổ chức. - Sự tiếp thu (Internalisation): Sự lôi cuốn do có sự phù hợp, sự tương đồng giữa giá trị cá nhân với giá trị của tổ chức. Như vậy, mỗi phương pháp tiếp cận có nhiều quan niệm, nhiều cách định nghĩa về sự gắn kết khác nhau. Tuy nhiên, những quan niệm khác nhau đó đều bộc lộ một số điểm chung nhất: các nhà nghiên cứu cho rằng sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là một trạng thái tâm lý, trạng thái này thúc đẩy mối liên kết, gắn bó người lao động với tổ chức của mình tham gia.
Điều này tác động đến việc người lao động tiếp tục duy trì công việc, vị trí hiện tại của họ trong tổ chức, cũng như giúp họ chấp nhận các giá trị của tổ chức và tham gia tích cực vào các hoạt động của tổ chức. [23] đã định nghĩa cam kết gắn bó với tổ chức là một trang thái tâm lý mà biểu thị cho mối quan hệ của nhân viên với tổ chức, liên hệ mật thiết đến quyết định để duy trì là thành viên trong tổ chức. Meyer và Allen. Khẳng định cam kết gắn bó với tổ chức thường được coi là trạng thái tâm lý của người lao động đối với tổ chức.
Hai tác giả đã đưa ra mô hình ba yếu tố của sự cam kết gắn bó với tổ chức, cụ thể là: - Cam kết tình cảm (Affective Commitment) được định nghĩa là nhân viên có thể trung thành với tổ chức xuất phát từ tình cảm thật sự của họ. Tình cảm này thật sự tự nhiên gắn kết nhân viên với tổ chức của mình. - Cam kết tiếp tục (Continuace Commitment) được hiểu là nhân viên sẽ ở lại với tổ chức dù có nơi khác trả lương cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn.