phần mở đầu và kết luận, bố cục bài luận văn được kết cấu thành ba chương chính. Cụ thể đ là: Chƣơng 1: Một số vấn đề l luận và thực tiễn về tăng cường tham gia BHXH tự nguyện. Chƣơng 2: Thực trạng công tác tăng cường sự tham gia BHXH tự nguyện tại TP.Đồng Hới Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia BHXH tự nguyện tại TP.Đồng Hới 5 van PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƢỜNG THAM GIA BHXH TỰ NGUYỆN 1.1 Một số vấn đề lý luận về BHXH và BHXH tự nguyện 1. Tổng quan về BHXH tự nguyện 1.
Khái niệm BHXH Bảo hiểm và BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập, nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều g c độ và khía cạnh khác nhau. Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại. Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH [5]. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và coi nó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội.
Mặc dù đã c quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về BHXH, chưa c khái niệm thống nhất. Bởi lẽ, BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý. Ở nước ta, BHXH được chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm ngay từ khi bôn ba tìm đường cứu nước đến trước lúc đi xa, Người đã nhiều lần đề cập đến cụm từ “Bảo hiểm xã hội” và khẳng định BHXH là một chính sách cơ bản đối với người lao động. Trong bài báo cáo về những nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương về phong trào nông dân viết cuối năm 1930, Người chỉ rõ trong đấu tranh của nông dân, đặc biệt “đòi bảo hiểm xã hội, ngày nghỉ được trả công”[5].
Kể từ khi xuất hiện đến nay, BHXH luôn phát huy tác dụng trong những lúc NLĐ gặp kh khăn hiểm nghèo do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già… trên cơ sở những cam kết đ ng g p của NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ) 6 van cho một bên thứ ba (cơ quan bảo hiểm) trước khi xảy ra những biến cố đ. Tuy nhiên, BHXH không trực tiếp chữa bệnh cho người tham gia BHXH khi họ ốm đau, tai nạn, sắp xếp việc làm cho người mất việc làm… mà chỉ giúp họ giữ thăng bằng phần thu nhập bị giảm hay bị mất hoặc giúp họ trang trải phần chi tiêu bị tăng cao đột xuất do gặp các rủi ro nói trên. Vì vậy, BHXH là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự đảm bảo thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho NLĐ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”[1].
Theo từ điển Bách khoa: "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đ ng g p của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [2]. Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những kh khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm s c y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”[7]. Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội. Còn theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đ ng g p để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những kh khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết” [3].
Hiện nay, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH thì BHXH được định nghĩa như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao 7 van động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đ ng vào quỹ BHXH”[14]. Khái niệm BHXH tự nguyện BHXH tự nguyện là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đ ng vào quỹ bảo hiểm xã hội. BHXH là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đ ng, phương thức đ ng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đ ng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất[14]. Đặc điểm của BHXH tự nguyện Bảo hiểm xã hội tự nguyện với tư cách là tiểu hệ thống của hệ thống BHXH quốc gia, nên có những đặc điểm chung của BHXH.
Ngoài ra, BHXH tự nguyện có những đặc điểm cơ bản như: BHXH tự nguyện cũng như BHXH, dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm; Đòi hỏi tất cả mọi người tham gia và bao trùm bởi một hệ thống được quy định mà các mức đ ng g p tạo nên một quỹ chung; Các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các sự cố, các “rủi ro xã hội” được bảo hiểm và đủ điều kiện để hưởng; Chi phí cho các chế độ được chi trả bởi nguồn quỹ BHXH tự nguyện; Nguồn quỹ được hình thành từ các mức đ ng g p của người tham gia, trong BHXH tự nguyện chủ yếu là người lao động, với một phần hỗ trợ của nhà nước; Đòi hỏi tham gia tự nguyện nhưng dựa trên những mức phí xác định; Các mức đ ng g p được đưa vào một quỹ BHXH tự nguyện và các chế độ được chi trả từ đ [17,12]. Nguyên tắc của BHXH tự nguyện - Mức hưởng được tính trên cơ sở mức đ ng, thời gian đ ng bảo hiểm xã hội tự nguyện và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội. - Mức đ ng bảo được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn. - Người lao động vừa có thời gian đ ng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đ ng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất 8 van trên cơ sở thời gian đã đ ng bảo hiểm xã hội.
Thời gian đ ng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. - Việc thực hiện BHXH tự nguyện phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH tự nguyện. - Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần. Vai trò của BHXH tự nguyện Thứ nhất là: Tạo được tâm l yên tâm, tin tưởng.
Khi đã tham gia BHXH tự nguyện góp phần nâng cao đời sống tinh thần đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt khi về già. Thứ hai là: Tăng cường mối quan hệ giữa các bên. Nhà nước, NLĐ c mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ c được trong quan hệ của BHXH. Người lao động tham gia BHXH tự nguyện với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội.
Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH[19,20]. Thứ ba là: Tạo điều kiện cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, động lực cần thiết để khắc phục những biến cố trong cuộc sống, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ, nhờ đ c thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”. BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội công bằng, văn minh. Thứ tư là: Thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần tương thân tương ái.
Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho xã hội phát triển lành mạnh và bền vững. 9 van Thứ năm là: Thực hiện bình đẳng xã hội. Trên giác độ xã hội, BHXH tự nguyện là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động. Trên giác độ kinh tế, BHXH tự nguyện là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng.
Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội[18]. Những quy định về chế độ BHXH tự nguyện Luật BHXH số 58/2014/QH13 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 20/11/2014 đã dành chương IV (từ Điều 72 đến Điều 81), mục 2 chương V (Điều 87) và một số điều khoản c liên quan để quy định về BHXH nguyện.