Chương 1: Cơ sở lý luận chung về bồi thường, giải phóng mặt bằng Chương 2: Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bang dự án xây dựng Trụ sở bảo hiểm xã hội huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình Chương 3: Một số giải pháp nâng cao công tác bồi thường, giải phóng mặt băng dự án xây dựng Trụ sở bảo hiểm xã hội huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình 4 7. Lời cảm ơn Qua thời gian thực tập và nghiên cứu tại phòng Kinh tế - Hạ tang UBND huyện Yên Thủy tôi đã hoàn thành Chuyên đề tốt nghiệp, chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Đô thị với dé tài: “Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án xây dựng Trụ sở Bảo hiểm xã hội huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình” với sự hướng dẫn và giúp đỡ của các thầy cô trong Khoa Môi trường, Biến đổi khí hậu và Đô thị tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân, các anh chị tại phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Yên Thủy. Tôi xin cảm ơn cô giáo Bùi Thị Hoàng Lan đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và đưa ra những định hướng cần thiết trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề này. Tôi xin cảm ơn các thầy cô Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và khoa Môi trường, Biến đổi khí hậu và Đô thị đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chuyên dé.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Kinh tế va Hạ tang UBND huyện Yên Thủy, cán bộ hướng dẫn — anh Nguyễn Anh Sơn cùng các anh chị trong phòng ban đã hướng dẫn, cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết giúp tôi nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này. Sinh viên thực hiện Vũ Thị Ngọc LỜI CAM ĐOAN "Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là đo bản thân thực hiện, không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc chuyên đề của người khác; nếu sai phạm tôi xin chịu kỷ luật với Nhà trường” Hà Nội, ngày tháng năm Sinh viên thực hiện Vũ Thị Ngọc CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE BOI THƯỜNG, GIẢI PHONG MẶT BẰNG 1. Khái quát về công tác bồi thường, GPMB 1. Các khái niệm liên quan đến bồi thường và GPMB * Giải phóng mặt bằng “GPMB là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến di chuyền nhà cửa và cây cối của người dân trên phần đất nằm trong dự án.
Mục đích nhằm phục vụ cho việc cải tạo, quy hoạch đô thị, cải tạo vốn đất hoặc xây dựng các công trình mới. Việc GPMB được thực hiện sau khi chủ đầu tư tiến hành đền bù cho các công trình tồn tại trước đó cần di đời dé lay mặt bằng thực hiện, triển khai dự án.” Trong mỗi dự án THD nhằm phục vụ cho các mục đích AN — QP của Nha nước thì việc vận động người dân GPMB luôn là điều quan trọng nhất. Việc này phải dam bảo day đủ lợi ích cho các hộ dân khi di dời cũng như có chỗ dé họ tái định cư. “GPMB là quá trình phức tạp và cần phải cân bằng lợi ích giữa người dân và chủ đầu tư.
Nếu van dé nay không được giải quyết khéo léo và triệt dé sẽ dẫn đến việc tranh chấp kéo dài.” * Thu hồi đất Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành, tại “khoản 11 Điều 3 Luật dat đai năm 2013”, THD được hiểu như sau: “Nhà nước ra quyết định thu lại quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đang thuộc quyền sử dụng đất của người khác nếu người này có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trong quá trình sử dụng đất.” Tuy nhiên, chỉ có những trường hợp cụ thé Nhà nước mới có thé THD. Căn cứ theo “Khoản 1, Điều 16, Luật Dat dai 2013”: “1. Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. b) Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại dat, có nguy cơ de doa tính mạng con người. Nhà nước quyết định trưng dung đất trong trường hợp thật cần thiết dé thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai” * Bồi thường “Bồi thường là trả lại công lao, giá trị tương xứng của một chủ thé nào đó bị thiệt hai, ton that boi hành vi của chủ thé khác. Bồi thường khi Nhà nước THD là việc Nhà nước trả lại giá trị QSDĐ đối với diện tích đất bị thu hồi. Trong đó, giá trị QSDĐ của một diện tích đất do quy định của pháp luật hoặc do thỏa thuận giữa các chủ thể bao gồm: giá trị thể hiện bằng tiền hoặc bằng những vật chất khác.” Theo Luật đất đai 2013: “Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có dat đề bồi thường thì được bôi thường bang giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi; trường hợp bồi thường băng việc giao đất mới hoặc băng nhà có chênh lệch về giá trị thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền.
Trường hợp người sử dụng đất được bôi thường khi Nhà nước thu hồi dat mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ dé hoàn trả Ngân sách nhà nước. Giá đất dé tính bồi thường là giá đất theo mục dich sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công bồ theo quy định của Chính phủ; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyên mục đích sử dụng.” * Quy định bồi thường về tài sản: “Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà bị thiệt hại thì được bồi thường. Chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất mà đất đó thuộc đối tượng không được bồi thường thì tùy từng trường hợp cụ thé được bồi thường hoặc hé trợ tài sản. Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã công bố mà không được cơ quan Nhà nước có thâm quyền cho phép xây dựng thì không được bồi thường.
Nhà, công trình khác gắn liền với đất được xây dựng sau ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà tại thời điểm xây dựng đã trái với mục đích sử dụng đất đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã xét duyệt thì không được bồi thường. Hệ thống máy móc, dây chuyên sản xuất có thể tháo rời và di chuyển được thì chỉ được bôi thường các chi phí tháo đỡ, vận chuyên, lắp đặt và thiệt hại khi tháo đỡ, vận chuyền, lắp đặt; mức bồi thường do UBND cấp tỉnh quy định phù hợp với pháp luật hiện hành và thực tế ở địa phương.” * Quy định về hỗ trợ khi Nhà nước THD: “Hỗ trợ là việc Nha nước giúp đỡ người bị thu héi dat thông qua dao tao nghề mới, hỗ trợ việc làm, cấp kinh phí để đi dời đến địa điểm mới.” Theo quy định tại “Điều 83 Luật Đất đai 2013”: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất thi ngoài được bồi thường theo quy định thì còn được xem xét hỗ trợ; Việc hỗ trợ đảm bảo khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật. Các khoản hỗ trợ gồm: Hỗ trợ 6n định đời sống và sản xuất; Hỗ trợ đảo tạo, chuyền đôi nghề và tìm kiếm việc làm; Hỗ trợ tái định cư; Hỗ trợ khác.” “Tái định cư là việc sinh sống và làm ăn tại một nơi khác với nơi ở trước đây. Khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai dé thực hiện các dự án phát triển, việc tái định cư bắt buộc là sự di chuyên không thé tránh khỏi.” Theo “Điều 22 Nghị định 47/2014/NĐ-CP” về việc hỗ trợ tái định cư được thực hiện như sau: “Nếu nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiêu thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suât tái định cư tôi thiêu và sô tiên được bôi thường về đât Nếu tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư.
UBND cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hôi, số nhân khẩu của hộ gia đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ cho phù hợp. Các hình thức sau gồm: Bồi thường bằng nhà ở; Bồi thường bằng giao đất ở mới; Bồi thường bằng tiền dé người dân tự lo chỗ ở.” * Giá đất Theo Điều 4 Luật đất đai 2013: “Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về QSDĐ. Giá trị QSDĐ là giá trị bằng tiền của QSDĐ đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dung đất xác định. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của mình thông qua việc quyết định giá đất.
Nhăm đảm bảo nguyên tắc QSDĐ được pháp luật bảo hộ trong việc xác định giá đất bồi thường khi Nhà nước THD được quy định tại Khoản 2 Điều 54 Hiến pháp năm 2013. Việc xác định giá đất cụ thé dé tính tiền bồi thường về đất cũng hướng đến việc bảo đảm nguyên tắc việc thu hồi đất phải công khai, minh bach và được bôi thường theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm 2013.” “Theo Điều 113 và 114 Luật Đất đai năm 2013, để xác định giá đất bồi thường khi Nhà nước THD, ta sé dựa vào những cơ sở trực tiếp và gián tiếp là: bảng giá đất, khung giá đất và giá đất cụ thể. Dưới sự tham mưu của cơ quan quản ly đất đai cấp tinh, UBND cấp tinh sẽ quyết định giá dat cụ thé. Gia đất cụ thé sẽ làm căn cứ dé tính tiền bồi thường khi Nhà nước THD.” Khung giá đất: “Là các quy định của Chính phủ xác định giá đất từ tối thiêu đến tối đa cho từng loại đất.” “Theo Điều 113 Khung giá đất, Luật Đất đai 2013, Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng.