Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VE PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUA KINH TE CUA CÔNG TRINH HO CHU ĐA MỤC TIEU 1. Tổng quan về công trình hồ chứa đa mục tiêu 1.Giới thiệu tong quan về công trình hồ chứa đa mục tiêu Hồ chứa, còn gọi là kho nước nhân tạo, hồ chứa nhân tạo, là những thủy vực chứa nước tương đối lớn, hình thành một cách nhân tạo hoặc bán nhân tạo, có chế độ nước bị điều tiết nhân tạo. Các hồ chứa do con nguoi tao ra bang cach dap dap ngăn dong chảy của sông hoặc suối. Các hồ chứa lớn trên thé giới đều được xây dựng theo phương thức xây đập ngăn sông.
Những hồ chứa đầu tiên đã được xây dựng từ khoảng 5.000 năm trước trên sông Tigris(Tich Giang) ở Iraq và Euphrates ở Syria (hai con sông đã tạo nên nền văn minh Lưỡng Hà - Mesopotamia); trên sông Nin ở Ai Cập và sông Indus (sông An) ở Pakistan. Tất cả các hồ chứa từ xa xưa được xây dựng chủ yếu dé phục vụ tưới cho nông nghiệp và kiểm soát lũ. Trên thé giới hiện có hơn 45.000 hồ chứa lớn đang hoạt động (là những hồ chứa có đập cao >l5m hoặc có đập cao từ 5-15m nhưng có dung tích >3 tỷ m”) và khoảng trên 800.000 hồ chứa không thuộc loại lớn. Trong thời gian qua, hồ chứa lớn được xem là biểu tượng của khả năng chế ngự và chinh phục thiên nhiên của con người nhằm mục đích phát triển công nghiệp cũng như nông nghiệp, kinh tế xã hội và điện lực.
Kết quả là hơn một nửa các con sông lớn trên thế giới đều bị ảnh hưởng của việc xây dựng hồ chứa và gần 40 triệu người dân đã phải di dời. Trung Quốc là nước có nhiều hồ chứa lớn nhất, với trên 20.000 hồ chứa (trên tổng số > 90.000 hồ chứa); Mỹ có khoảng 6.400 hồ chứa lớn, An Độ có khoảng 4.000 hồ chứa lớn, Nhật va Tây Ban Nha có khoảng > 1.000 hồ chứa lớn. Năm 1992 Trung Quốc tiến hành xây dựng hồ chứa nước Tam Hiệp trên sông Dương Tử trị giá 50 tỷ USD, với đập cao 185m có chức năng cấp nước, điều tiết lũ, phát điện (12% nhu cầu điện toàn quốc). Công trình làm 1,2 triệu người phải di dời và làm ngập 41.000ha đất nông nghiệp.
Căn cứ vào tính chất hoặc nhiệm vụ chủ yêu của hồ chứa có thé phân thành 2 loại hồ chứa chủ yếu là hồ chứa thủy lợi và hồ chứa thủy điện. Hồ chứa đa mục tiêu là loại công trình hồ chứa thủy lợi được xây dựng đề khai thác tổng hợp nguồn nước: cung cấp nước tưới cho nông nghiệp, giảm lũ, cắt lũ cho hạ du, phát điện, cấp nước cho công nghiệp và sinh hoạt, tạo cảnh quan môi trường dé phát triển dịch vụ du lịch, phục vụ giao thông thủy, nuôi trồng thủy san,. Công trình hồ chứa đa mục tiêu có ba vấn đề chính cần quan tâm giải quyết ma ở công trình được thiết kế cho một mục tiêu duy nhất không có, đó là: - Vấn đề giải quyết các xung đột và mâu thuẫn giữa các nhiệm vụ (các ngành dùng nước) trong bài toán cân bằng nước. - Vấn dé phân bồ vốn dau tư cho từng nhiệm vu.
- Vấn đề xác định thu nhập và lợi ích của từng nhiệm vụ. Nói chung trong lĩnh vực thủy lợi ngày nay, hầu hết các hệ thống thủy lợi, đặc biệt là các hệ thống có hồ chứa điều tiết dong chảy đều thuộc loại hệ thống thủy lợi đa mục tiêu, cùng một lúc phục vụ nhiêu ngành kinh tê quôc dân.Vai trò, hiệu quả của công trình hồ chứa đa mục tiêu Hồ chứa đa mục tiêu là một biện pháp công trình nhằm kiểm soát và điều tiết lượng nước được sử dụng cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực một cách hợp lý, mang lại hiệu quả cao; có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực dự án. Hồ chứa đa mục tiêu được xây dựng nhằm các mục tiêu sau: 1. Cấp nước nông nghiệp (Agricultural Water Supply) 2.
Hệ thống thủy lợi cung cấp nước sinh hoạt và công nghiệp (Domestic and Industry water supply) 3. Nuôi trồng thuỷ sản và thủy cầm được CTTL cấp, thoát nudc( Water suplly for Aquaculture ) 4. Hệ thống thủy lợi kết hợp cấp nước cho chăn nuôi (Integrated Irrigated Crop-—Livestock Systems) 5. Hệ thống thủy lợi kết hop cung cấp nước cho tiểu công nghiệp, dich vụ ở nông thôn (Water suplly for Rural enterprises ) 6.
Hệ thống thủy lợi kết hợp cung cấp nước cho thủy điện và giao thông thủy (Hydropower generation and navigation) 7. Các công trình thủy lợi phòng chống ting ngập, lũ lụt 8. Hệ thống thủy lợi Tác động đến chu trình thủy văn và môi trường (Hydrological cycle and ecosystem functions) 9. HTTL bồ sung nguồn nước ngầm (Groundwater recharge).
Tác dụng làm sạch nước của các hệ thống thủy lợi (Water purification) 11. Bảo tồn đa dạng sinh học nhờ các HTTL (Conservation of Biodiversity) 12. Giá trị du lịch sinh thái và giải trí của các hệ thống thủy lợi 13. Hệ thống thủy lợi bảo vệ môi trường,cải thiện khí hậu (Climate adjustment).
Hệ thống thủy lợi tác động tích cực đến sự phát triển văn hóa, xã hội. Hồ chứa có vai trò quyết định tạo đà phát triển trong phát triển kinh tế của khu vực dự án. Tạo điều kiện quan trọng cho phát triển nhanh và ổn định diện tích canh tác, năng suất, sản lượng lúa dé dam bảo an ninh lương thực và xuất khâu. Tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi như lúa, ngô ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, cao su và cà phê ở miền Đông nam Bộ, Tây Nguyên, chè ở Trung du và miền núi Bắc Bộ,.Nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững mang lại hiệu quả cao tại những vùng có hệ thống thủy lợi bảo đảm nguồn cấp và thoát nước chủ động.
Hồ chứa có tác dụng phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai (1ũ lụt, tng, han, sat lở,.), bảo vệ tính mang của nhân dân, bảo vệ sản xuất, co sở hạ tầng kỹ thuật, hạn chế dịch bệnh. Các công trình hồ chứa lớn và vừa ở thượng du đã từng bước đảm bảo chống lũ cho công trình và tham gia cắt lũ cho hạ du. Hồ chứa còn có tác dụng cung cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác theo số liệu cụ thể: Ở Việt Nam, Hàng năm các công trình thủy lợi cung cấp khoảng 6 tỷ mét khối nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ, trong đó chủ yếu là từ các hồ chứa cấp nước sinh hoạt cho đồng bằng, trung du miền núi. Đến nay khoảng (70-75)% số dân nông thôn đã được cấp nước hợp vệ sinh với mức cấp 60 lít/người/ngày đêm.Cấp nước cho các khu công nghiệp, các làng nghề, bến cảng.
Các công trình hồ chứa còn góp phần phát triển nguồn điện: Lợi dụng thủy năng đề phát triển ngành điện - một ngành có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của các ngành nghề khác. Bên cạnh đó các công trình hồ chứa đã góp phan làm tăng độ 4m, bổ sung nguồn nước ngầm, điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước, bảo tồn đa dạng sinh học, phòng chống cháy rừng, cải thiện điều kiện vi khí hậu. Tuy nhiên, việc xây dựng và hoạt động của các hồ chứa đa mục tiêu cũng có thé gây ra một số tác động tiêu cực như: Phải thực hiện di dân và tái định cu dé có diện tích xây dựng công trình và làm mắt đi một số phần trăm diện tích đất canh tác và đất rừng, đa dạng sinh học bị thay đôi, tập quán canh tác thay đôi,. Các tác động tiêu cực thường là nhỏ, có thê giảm thiểu đến mức tối đa nhờ công tác quy hoạch, thiết kế, xây dựng và quản lý khai thác hợp lý và tối ưu, do vậy nó hầu như không đáng ké so với các lợi ích thu được từ hiệu quả phục vụ của các hô chứa.Tình hình đầu tư xây dựng các công trình hồ chứa thủy lợi Theo số liệu được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công bồ tại Hội thảo “Đảm bảo an toàn hồ đập - Thực trạng, thách thức và giải pháp”, ngày 10/07/2014 thì hiện nay cả nước ta có 6.648 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ khoảng 11 ty m , trong đó, có 560 hồ chứa lớn (có dung tích trữ >3,0 triệu mì hoặc đập cao >15m); 1.752 hồ chứa có dung tích từ 0,2 triệu mỶ đến 3,0 triệu mỶ, còn lại 4.896 hồ chứa nhỏ có dung tích dưới 0,2 triệu mỶ.
Các tỉnh đã xây dựng nhiều hồ chứa là: Hoà Bình 521 hồ, Bắc Giang 461 hồ, Tuyên Quang 503 hồ, Vĩnh Phúc 209 hồ, Phú Thọ 124 hồ, Thanh Hoá 618 hồ, Nghệ An 625 hồ, Hà Tĩnh 345 hồ, Bình Dinh 161 hồ, Dak Lắk 439 hà,. Với trên 500 hồ đập lớn có dung tích trên 1 triệu mỶ nước hoặc có đập cao trên 10 m hoặc công trình xả lũ trên 2. Theo số lượng này Việt Nam đứng thứ 15 trên thé giới về những thành tựu đã đạt dược trong công tác thủy lợi san Trung Quốc, Mỹ, An Độ, Nhật Bản, Canada, Quốc, Thỏ Nhĩ Kỷ, Brazil, Pháp, Nam Phi, Mi ico, lalia, Anh. số hồ đập lớn trên có: 72 hồ đập có dung tích trên 10 trigu m, 41 hỗ đập có dung tích trên 20 triệu mÏ, 1.
Quá trành đầu tư xây dựng các hồ chứu thúy lợi Tir những năm 1960 đến năm 2000 của thé kỷ trước, nước ta đã tu xây dựng hing ngàn hỗ chứa với các quy mô và hình thức đầu tư khác nhau, cụ thé - Giai đoạn 19601975: Nhà nước đã đầu tư xây dựng nhiều hồ chứa có dung tích trừ từ 1050 trị cao lớn chủ yếu là các đập vật liệu địa phương trong đó dp đắt chiếm đa phần như: Đại Lai, Sui Hi, Đồng Mô (Hà Noi Khuôn Thần (Bắc Giang); Thượng Tuy (Hà Tinh); Rio Nan, Cảm Ly (Quảng Bình). trong đó, hd Cm Sơn với dung tích trữ 248 triệu mỶ và chiéu cao đập 40m (19 hỗ chứa cổ đập đắt cao nhất nhất lúc bấy giờ) = Giai đoạn 1975:2000: Sau khi đất nước t nhất, diy mạnh phát triển kinh tế, nhà nước đã đầu tư xây dụng hàng loạt hồ chứa với nhiều quy mô khác nhau (lớn, vừa và nhỏ): ++ Mật số hồ chia quy mô lớn như: Núi Cốc (Thái Nguyên). trong đó hỗ Dâu Tiếng có dung tích lớn nhất 1.58 tỷ m" + Các địa phương trên cả nước đã xây dựng hơn 700 hồ chứa có dung tích từ (1210) triệu mẺ.