phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc kết cấu thành ba chƣơng cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình. - Chƣơng 2: Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình đƣờng Thống Nhất trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình tại Ban QLDA&PTQĐ huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Khái quát về dự án đầu tƣ xây dựng công trình 1. Khái niệm và đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình a) Khái niệm Dự án đầu tƣ xây dựng (Khoản 15 Điều 3 - Luật Xây dựng 2014 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2020) Dự án đầu tƣ xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Dự án đầu tƣ xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở. Dự án đầu tƣ xây dựng là một loại công việc mang tính chất một lần, cần có một lƣợng đầu tƣ nhất định, phải trải qua các trình tự.
Vẫn tuân thủ khái niệm theo 15 Điều 3 - Luật Xây dựng 2014, trong nội dung nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm chung nhƣ sau: Dự án đầu tư xây dựng công trình là một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan với nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách [9]. b) Đặc điểm Mỗi dự án phải có một hoặc một số mục tiêu rõ ràng. Thông thƣờng ngƣời ta cố gắng lƣợng hoá mục tiêu thành ra các chỉ tiêu cụ thể. Mỗi dự án là một quá trình tạo ra một kết quả cụ thể.
Nếu chỉ có kết quả cuối cùng mà kết quả đó không phải là kết quả của một tiến trình thì kết quả đó không đƣợc gọi là dự án. Mỗi dự án đều có một thời hạn nhất định (thường < 3 năm), nghĩa là phải có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Dự án đƣợc xem là một chuỗi các hoạt động nhất thời. Tổ chức của dự án mang tính chất tạm thời, đƣợc tạo dựng lên trong một thời hạn nhất định để đạt đƣợc mục tiêu đề ra, sau đó tổ chức này sẽ giải tán hay thay đổi cơ cấu tổ chức cho phù hợp với mục tiêu mới.
Nghĩa là mỗi dự án đều có một chu kỳ hoạt động. Theo Luật Xây dựng 2014 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2020, dự án đầu tƣ xây dựng có những đặc trƣng cơ bản sau [10]: 8 - Đƣợc cấu thành bởi một hoặc nhiều công trình thành phần có mối liên hệ nội tại chịu sự quản lý thống nhất trong quá trình đầu tƣ xây dựng. - Hoàn thành công trình là một mục tiêu đặc biệt trong điều kiện ràng buộc nhất định về thời gian, về nguồn lực, về chất lƣợng, về chi phí đầu tƣ và về hiệu quả đầu tƣ. - Phải tuân theo trình tự đầu tƣ xây dựng cần thiết từ lúc đƣa ra ý tƣởng đến khi công trình hoàn thành đƣa vào sử dụng.
- Mọi công việc chỉ thực hiện một lần: đầu tƣ một lần, địa điểm xây dựng cố định một lần, thiết kế và thi công đơn nhất. Các yêu cầu chủ yếu của Dự án đầu tƣ xây dựng công trình (Điều 3 - Nghị định 59/2015/NĐ-CP) [12]: - Dự án đầu tƣ đƣợc xây dựng phát triển bởi một quá trình gồm nhiều giai đoạn. Các giai đoạn này vừa có mối quan hệ gắn bó vừa độc lập tƣơng đối với nhau tạo thành chu trình của dự án. Chu trình của dự án đƣợc chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ, giai đoạn thực hiện đầu tƣ và giai đoạn vận hành kết quả.
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại ở giai đoạn sau, đặc biệt đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tƣ. Đối với chủ đầu tƣ và nhà tài trợ, việc xem xét đánh giá các giai đoạn của chu trình dự án là rất quan trọng. Nhƣng đứng ở các góc độ khác nhau, mỗi ngƣời có mối quan tâm và xem xét các giai đoạn và chu trình cũng khác nhau. Chủ đầu tƣ phải nắm vững ba giai đoạn, thực hiện đúng trình tự.
Đó là điều kiện để đảm bảo đầu tƣ đúng cơ hội và có hiệu quả. - Dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm của dự án đầu tƣ xây dựng là những tài sản cố định, có chức năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ khác cho xã hội, thƣờng có vốn đầu tƣ lớn, do nhiều ngƣời, thậm chí do nhiều cơ quan, đơn vị cùng tạo ra. - Dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản có quy mô lớn, kết cấu phức tạp.
- Dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản có thời gian sử dụng lâu dài, chất lƣợng của sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác. - Dự án đầu tƣ xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá nghệ thuật và quốc phòng. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình Việc phân loại dự án đầu tƣ xây dựng công trình tuân thủ theo Nghị định 59/2015/NĐ-CP nhƣ sau [12]: Theo quy mô và tính chất: dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trƣơng và cho phép đầu tƣ; các dự án còn lại đƣợc phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định tại Phụ lục 1 của Nghị định này; Theo nguồn vốn đầu tư: (a) Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc; (b) Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nƣớc bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc; (c) Dự án sử dụng vốn đầu tƣ phát triển của doanh nghiệp nhà nƣớc; (d) Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tƣ nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Quản lý nhà nƣớc đối với dự án đầu tƣ xây dựng công trình (Điều 1 - Nghị định 59/2015/NĐ-CP) ngoài quy định tại mục 2 thì tuỳ theo nguồn vốn sử dụng cho dự án, nhà nƣớc còn quản lý theo quy định sau đây [12]: Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc kể cả các dự án thành phần, Nhà nƣớc quản lý toàn bộ quá trình đầu tƣ xây dựng từ việc xác định chủ trƣơng đầu tƣ, lập dự án, quyết định đầu tƣ, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đƣa công trình vào khai thác sử dụng.
Ngƣời quyết định đầu tƣ có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án, nhƣng không quá 3 năm đối với dự án nhóm C (nguồn vốn dƣới 80 tỷ đồng), 4 năm đối với dự án nhóm B (nguồn vốn trên 80 tỷ đến 1.000 tỷ đồng); các dự án nhóm A (nguồn vốn trên 1. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc do cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nƣớc: - Các dự án sử dụng vốn tín dụng thì ngƣời vay vốn là chủ đầu tƣ. - Các dự án sử dụng vốn khác thì chủ đầu tƣ là chủ sở hữu vốn hoặc là ngƣời đại diện theo quy định của pháp luật. - Đối với các dự án sử dụng vốn hỗn hợp thì chủ đầu tƣ do các thành viên góp vốn thoả thuận cử ra hoặc là ngƣời có tỷ lệ góp vốn cao nhất.
- Dự án đầu tƣ xây dựng công trình đƣờng Thống Nhất đƣợc phân tích và đánh giá trong chƣơng 2 của đề tài thuộc nhóm C. Vai trò của dự án đầu tư xây dựng công trình Các dự án đầu tƣ xây dựng công trình, đặc biệt là đối với các dự án có nguồn đầu tƣ từ ngân sách Nhà nƣớc (NSNN) phải là tiền đề để phát triển đối với mọi hình thái kinh tế xã hội, nó có vai trò hết sức quan trọng là động lực để phát triển kinh tế và cũng là chìa khoá của sự tăng trƣởng. Nếu không có đầu tƣ thì không thể có phát triển. Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau: - Đầu tƣ xây dựng từ NSNN góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, hình thành kết cấu hạ tầng chung cho đất nƣớc nhƣ: giao thông, thuỷ lợi, điện, trƣờng học, trạm y tế.
Thông qua hoạt động đầu tƣ sẽ góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc dân, tái tạo và tăng cƣờng năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội. - Đầu tƣ xây dựng từ NSNN góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cƣờng chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội. Chẳng hạn, để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nƣớc chủ trƣơng tập trung vốn đầu tƣ vào những ngành, lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọn nhƣ công nghiệp dầu khí, hàng không, hàng hải, đặc biệt là giao thông vận tải đƣờng bộ, đƣờng sắt cao tốc, đầu tƣ vào một số ngành công nghệ cao,. Thông qua việc phát triển kết cấu hạ tầng để tạo lập môi trƣờng thuận lợi, tạo sự lan toả đầu tƣ và phát triển kinh doanh, thúc đẩy phát triển xã hội.
- Đầu tƣ xây dựng từ NSNN có vai trò định hƣớng hoạt động đầu tƣ trong nền kinh tế. Việc Nhà nƣớc bỏ vốn đầu tƣ vào kết cấu hạ tầng và các ngành, lĩnh vực có tính chiến lƣợc không những có vai trò dẫn dắt hoạt động đầu tƣ trong nền kinh tế mà còn góp phần định hƣớng hoạt động của nền kinh tế. Thông qua đầu tƣ xây dựng công trình vào các ngành, lĩnh vực khu vực quan trọng, vốn đầu tƣ từ NSNN có tác dụng kích thích các chủ thể kinh tế, các lực lƣợng trong xã hội đầu tƣ phát triển sản xuất - kinh doanh, tham gia liên kết và hợp tác trong xây dựng hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội.