chương 1 gồm: Tổng quan về dự án đầu tư và quản lý thực hiện dự án đầu tư, nội dung quản lý thực hiện dự án đầu tư, các nhân tô ảnh hưởng, đến quản lý thực hiện dự án đầu tư. Dự án đầu tư xây dựng và quá trình đầu tư xây dựng của bắt kỳ dự án nào bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị dự án, Thực hiện dự án, Kết thúc xây dựng và đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng. Quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng được hiểu là một tập hợp những. biện pháp của chủ đầu tư xây dựng để quản lý quá trình đầu tư, kể từ bước thực hiện đầu tư xây dựng tới bước khai thác dự án để đạt được mục tiêu đã định.
Quản lý thực hiện dự án đầu tư bao gồm hàng loạt vấn đề như quản lý thời gian, chỉ phí, nguồn vốn đầu tư, rủi ro. Trong phạm vi luận văn đưa ra 6 khía cạnh quản lý thực hiện dự án đầu tư bao gồm: Quản lý lựa chọn nhà thầu (Đảm. bảo được hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình; Chọn được nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng phù hợp với yêu cầu của gói thầu, có phương án kỹ thuật, công nghệ tối ưu, có giá dự thầu hợp lý, khách quan, công khai, công bằng, minh bạch, đảm bảo tính cạnh tranh; không vi phạm các hành vi bị pháp luật cắm); Quản lý hợp đồng trong xây. dựng (Quản lý tiến độ thực hiện hợp đồng; Quản lý về chất lượng; quản lý về khối lượng và giá hợp đồng; quản lý về an toàn lao động; bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ; quản lý điều chỉnh hợp đồng và các nội dung khác trong hợp đồng); Quản lý khối lượng công việc (Khối lượng thi công xây dựng được kiểm soát chặt chẽ và phối hợp giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công, tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn thi công và được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán theo hợp đồng); Quản lý tiến độ thực hiện (thiết lập mạng công việc, xác định thời gian thực hiện từng công, việc cũng như toàn bộ dự án và quản lý tiền trình thực hiện công việc của dự án trên cơ sở các nguồn lực cho phép trong việc lập kế hoạch tiến độ của dự án và kiểm soát tiến độ của dự án); Quản lý chỉ phí dự án (quản lý tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng, giá gói thầu xây dựng, giá hợp đồng xây dựng, định mức và giá xây dựng, chỉ phí quản lý thực hiện dự án và tư vấn đầu tư xây dựng; thanh toán và quyết toán hợp đồng xây dựng, thanh toán và quyết toán vốn đầu tư xây dựng.
công trình; quyền và nghĩa vụ của người quyết định đầu tư; Chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng trong quản lý chỉ phí đầu tư xây dựng); Quản lý an toàn trong xây dựng (Nhà thầu xây dựng có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn, phổ biến các quy định về an toàn lao động đối với một số công việc yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động theo qui định của pháp luật về an toàn lao động. Nghiêm cấm sử dụng người lao động chưa được huấn luyện và chưa được hướng dẫn về an toàn lao động. Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm cung cắp đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động, an toàn lao động cho người lao động theo quy định khi sử dụng lao động trên công trường, bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm làm công tác an toàn, vệ sinh lao động. Số lượng cán bộ chuyên trách làm công tác an toàn cần được bố trí phù hợp với quy mô công trường, mức độ rủi ro xảy ra tai nạn lao động của công trường cụ thé).
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng: Nhân tố bên ngoài (môi trường kinh tế, môi trường tự nhiên, năng lực của nhà thầu) và Nhân tố bên trong (năng lực của chủ đầu tư, năng lực của ban quản lý dự án, nguồn lực thực hiện dự án của chủ đầu tư). CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THỰC HIEN DY AN DAU TU XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN LƯỚI ĐIỆN - EVNWPC Chương này trình bày tổng quan hình thành và phát triển của Ban quản lý dự án lưới điện và thực trạng quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý trong giai đoạn 2015 2017. Số lượng dự án mà Ban quản lý thực hiện đang gia tăng trong giai đoạn 2015 — 2017, từ 195 dự án lên tới 232 dự án, tức là tăng lên 37 dự án, tương ứng, 19,0%. iều này chứng tỏ khối lượng công việc quản lý thực hiện dự án đầu tư mà Ban quản lý phải chịu trách nhiệm ngày càng gia tăng.
Nội dung quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý bao gồm 6 nội dung sau: Quản lý lựa chọn nhà thầu: Kết quả đấu thầu của Ban quản lý đang khá tốt, số lượng gói thầu ngày càng tăng lên, đặc biệt là đấu thầu rộng rãi. Điều này iv khiến cho giá trị trúng thầu giảm đi, khiến tỷ lệ tiết kiệm được nhờ đấu thầu rộng rãi ngày càng tăng lên. Quy trình lựa chọn nhà thầu đang được áp dụng ở Ban quản lý khá tốt, khách quan. Các thông tin về đấu thầu các dự án mà Ban quản lý.
được công bố rộng rãi trên các trang web chuyên về đấu thầu và website riêng. của Tập đoàn điện lực Việt Nam. Công tác quản lý lựa chọn nhà thầu được các nhân viên trong phòng Quản lý công trình đánh giá chỉ ở mức tạm được, còn nhiều thiếu sót. Thực tế các nhân viên phản ánh nhiều nhà thầu quen thuộc được lựa chọn vào nhiều dự án, khiến cho năng lực của họ bị hạn chế, khả năng đáp ứng khối lượng tất cả các dự án đồng thời bị giảm sút.
Đồng thời, xảy ra khá nhiều trường hợp nhà thầu không đáp ứng được công việc, bắt buộc phải thay nhà thầu giữa chừng. Quản lý hợp đồng trong xây dựng: Các nhân viên trong phòng Quản lý dự án của Ban quản lý đã vận dụng các quy định pháp luật hiện hành vào ký kết hợp. đồng xây dựng. Đa phần các hợp đồng xây dựng đều được ký kết theo mẫu của Ban quản lý với các điều khoản được quy định theo tiêu chuẩn tại Nghị định số 37/2015/NĐ-CP về Quy định chỉ tiết hợp đồng xây dựng, đồng thời có bổ sung thêm các điều khoản phù hợp đặc điểm riêng của Ban quản lý.
Việc thực hiện các điều khoản về giá trị hợp đồng, thời hạn hợp đồng chưa tốt, còn phải gia hạn nhiều, tỷ trọng các hợp đồng phải gia hạn thời hạn và sửa giá trị hợp đồng ngày cảng tăng lên. Quản lý chỉ phí: Trong quản lý chỉ phí, mỗi khoản chỉ phí trong mỗi dự án của Ban quản lý đều được ghi chép qua chứng từ và sổ sách đầy đủ. Công tác quản lý chỉ phí của Ban quản lý giai đoạn 2015 — 2017 chưa đạt hiệu quả cao, thể hiện qua mức chênh lệch tổng mức đầu tư và mức chênh lệch chỉ phí các công trình được quyết toán trong giai đoạn 2015 — 2017 đang tăng lên về giá trị và tỷ lệ. Hiệu quả công tác quản lý chỉ phí chỉ ở mức tạm được.
Nhân viên phản ánh có một số khoản chỉ phí đã được chỉ trước khi phê duyệt, sau đó mới hoàn thiện hồ sơ. Quản lý an toàn: Hiệu quả công tác quản lý an toàn đang ở mức khá. Tại các công trường, các nội quy an toàn, hướng dẫn an toàn đều được dán tại bảng. thông báo từ khi bắt đầu xây dựng công trường.
Trước khi tiến hành thi công xây dựng, nhà thầu đều có buổi hướng dẫn đào tạo về an toàn lao động. Tuy nhiên, với những người lao động vào giữa quá trình thi công thì lại không có sự hướng dẫn này. Các công nhân lao động tại công trường đều được trang bị đồ bảo hộ như nón bảo hộ, áo bảo hộ, giầy bảo hộ. Tuy nhiên, một số vị trí nguy hiểm tại công trường chỉ được gắn biển cảnh báo, chứ không có người hướng dẫn.
Một số vị trí còn không kịp lắp biển cảnh báo, công nhân tại đó chỉ để bao xi măng, hoặc xô chậu để nhắc nhở mọi người. Tần suất kiểm tra, giám sát của các bên liên quan đối với công tác an toàn lao động trên công trường chưa theo đúng kế hoạch. Theo kế hoạch, việc kiểm tra, giám sát của Ban quản lý đối với công tác an toàn lao động trên công trường phải được thực hiện ít nhất 1 lần / tháng, nhưng nhiều dự án có vị trí địa lý xa, nhân viên Ban quản lý đã không thực hiện theo đúng kế hoạch. Quản lý khối lượng công việc: Hiệu quả công tác quản lý khối lượng công việc còn kém.
Một số nhân viên phản ánh do họ phải giám sát cùng lúc nhiều dự án nên đôi khi có dự án bị lơ là, không chặt chẽ. Thực tế còn nhiều dự án bị vượt kế hoạch về khối lượng công việc, khiến cho chỉ phí, tiến độ dự án đều bị gia tăng. Đồng thời, tại Ban quản lý, đã xảy ra các trường hợp khai khống, khai tăng, khối lượng thực hiện, và được nhân viên của Ban quản lý phát hiện. Tuy nhiên, thực tế Ban quản lý chưa có sự trừng phạt đối với các nhà thầu này, mà chỉ loại bỏ số khai khống, khai tăng ra khỏi dự toán.
Quản lý tiến độ: Hiệu quả công tác quản lý tiến độ chỉ ở mức tạm được. Một số nhân viên phản ánh do họ phải giám sát cùng lúc nhiều dự án nên đôi khi có dự án bị lơ là, không chặt chẽ. Thực tế còn nhiều dự án bị vượt kế hoạch về khối lượng công việc, khiến cho tiến độ dự án cũng bị gia tăng tương ứng, vượt kế hoạch. Đồng thời, tại Ban quản lý, vẫn còn nhiều nhà thầu chưa thực hiện đầy đủ công tác lập báo cáo tiến độ.
Tuy nhiên, Ban quản lý chỉ mới dừng ở việc nhắc nhở, thúc giục chứ chưa có chế tài phạt các nhà thầu khi chậm trễ.