Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học đề tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa dân tộc H’Mong gắn với phát triển du lịch cộng đồng tại xã Hoàng Liên, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai” được thực hiện bởi sinh viên Vàng A Khay, chuyên ngành Du lịch sinh thái, Khoa Quản lý tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (khóa 2019 – 2023, bảo vệ năm 2023), dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Lê Duy.
Về bối cảnh thực tiễn, thị xã Sa Pa (tỉnh Lào Cai) là trung tâm du lịch nổi tiếng với khí hậu cận nhiệt đới ẩm vùng núi (nhiệt độ trung bình 15–18°C) và là nơi cư trú của 7 dân tộc anh em, trong đó người H’mông chiếm tỷ lệ lớn nhất (52% dân số). Mặc dù hoạt động du lịch tại Sa Pa đã phát triển từ đầu thế kỷ 20, dòng khách chủ yếu tập trung khai thác cảnh quan thiên nhiên, trong khi mảng du lịch văn hóa bản địa chưa được đầu tư và phát huy tương xứng. Xã Hoàng Liên – địa bàn sinh sống tập trung của đồng bào H’mông (chủ yếu là nhóm H’mông Leng/H’mông Xanh) – sở hữu nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc. Tuy nhiên, trước tác động của đô thị hóa, thương mại hóa và công nghệ 4.0, các giá trị truyền thống tại đây đang đứng trước nguy cơ mai một: trang phục truyền thống dần bị thay thế bởi các loại trang phục ngoại lai giá rẻ; các nghề thủ công truyền thống (dệt lanh, chạm khắc bạc, vẽ sáp ong) suy giảm; hoạt động sản xuất quà lưu niệm mang tính cẩu thả chạy theo số lượng, làm sai lệch bản sắc văn hóa địa phương. Là người bản địa sinh ra và lớn lên tại địa phương, tác giả thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng văn hóa và hoạt động du lịch, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn văn hóa gắn liền với phát triển du lịch cộng đồng (DLCĐ) bền vững.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội tại xã Hoàng Liên, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá thực trạng văn hóa và công tác bảo tồn văn hóa của người H’mông tại địa phương.
- Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng tại điểm nghiên cứu.
- Đề xuất các nhóm giải pháp phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc H’mông tại xã Hoàng Liên.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm: Thực trạng văn hóa dân tộc H’mông, hiện trạng bảo tồn văn hóa H’mông tại xã Hoàng Liên; đánh giá lượng khách, hành vi du khách tại Sa Pa và tiềm năng thu hút khách du lịch tại xã Hoàng Liên. Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn trên địa bàn xã Hoàng Liên, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai (bao gồm 8 thôn/bản: Cát Cát, Lao Chải Sán 1, Lao Chải Sán 2, Lao Hang Chải, Lô Lao Chải, Sín Chải, Ý Linh Hồ 1, Ý Linh Hồ 2).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở khoa học dựa trên các khái niệm và công trình nghiên cứu chuyên ngành:
- Khung lý thuyết về du lịch cộng đồng: Khái niệm DLCĐ bắt nguồn từ loại hình du lịch làng nghề từ thập niên 1970. Tác giả trích dẫn định nghĩa của Dự án Du lịch sinh thái xã hội có trách nhiệm (REST, 1997) và định nghĩa của TS. Võ Quế về DLCĐ tại Việt Nam, nhấn mạnh vai trò làm chủ, quản lý, bảo tồn tài nguyên và hưởng lợi kinh tế của cộng đồng bản địa; quan điểm của Nguyễn Thị Huyền Hương và Trần Thị Khánh Chi (2020) về vai trò của DLCĐ trong tái thiết kinh tế và nâng cao nhận thức cộng đồng; phân loại 5 loại hình DLCĐ (du lịch văn hóa; du lịch dân tộc, bản địa; du lịch làng; du lịch sinh thái; du lịch nông nghiệp).
- Lý thuyết văn hóa và biến đổi văn hóa: Hệ thống hóa các khái niệm văn hóa theo nhân chủng học và xã hội học (Alfred Kroeber & Clyde Kluckhohn, Thomas Hobbes, Edward Burnett Tylor, Edward Sapir, William Isaac Thomas, Ralph Linton, UNESCO 2002, Từ điển Tiếng Việt 2004); cấu trúc văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; các cơ chế biến đổi văn hóa (phát minh, khám phá, truyền bá/khuếch tán) và hiện tượng tụt hậu văn hóa.
- Tổng quan nghiên cứu liên quan: Báo cáo khảo sát hành vi du khách của AC Nielsen; nghiên cứu của Dương Văn Sáu (2016) về lễ hội như một tài nguyên du lịch nhân văn; nghiên cứu của Nguyễn Thị Trà My (2017) về thực trạng người H’mông tham gia hoạt động du lịch tại Sa Pa (bản Cát Cát có 19,7% dân số, thôn Lồ Lao Chải có 12,7% dân số tham gia dịch vụ); nghiên cứu của Đỗ Cẩm Thơ (2015) về phát triển sản phẩm du lịch đặc thù vùng núi phía Bắc.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai gồm:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo thống kê, tài liệu quy hoạch, báo cáo tình hình phát triển kinh tế – xã hội, đất đai, trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp giai đoạn 2020–2022 trực tiếp từ UBND xã Hoàng Liên và các cơ quan chuyên môn thị xã Sa Pa.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu sơ cấp: Thiết kế bộ câu hỏi và tiến hành phỏng vấn trực tiếp với tổng quy mô mẫu điều tra $n = 60$ phiếu, chia đều thành hai nhóm:
- Nhóm du khách ($n = 30$ phiếu): Khảo sát ngẫu nhiên khách du lịch đến tham quan Sa Pa về nguồn thông tin, lý do du lịch, thời gian lưu trú, mức chi tiêu, mức độ ưa thích tài nguyên và khả năng quay lại.
- Nhóm người dân địa phương ($n = 30$ phiếu): Khảo sát các hộ dân tại 8 thôn thuộc xã Hoàng Liên (mỗi thôn chọn ngẫu nhiên từ 3–4 hộ) về mức độ hiểu biết văn hóa H’mông, đánh giá sự mai một văn hóa, thu nhập và sự tham gia vào các dịch vụ du lịch.
- Phương pháp tổng hợp, xử lý và biểu đạt số liệu: Số liệu điều tra được nhập liệu, phân loại và xử lý thống kê mô tả (tính tỷ lệ phần trăm, tần suất) bằng phần mềm Microsoft Excel; biểu đạt kết quả thông qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tính cấp thiết của đề tài
Chương này làm rõ bối cảnh tự nhiên và nhân văn của Sa Pa, xác định vị trí của cộng đồng người H’mông (chiếm 52% dân số thị xã). Tác giả chỉ ra mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng du lịch nhanh chóng với sự suy giảm các giá trị văn hóa bản địa do hoạt động thương mại hóa thiếu kiểm soát tại xã Hoàng Liên. Trên cơ sở đó, chương xác lập 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, chỉ rõ ý nghĩa học tập trong việc rèn luyện kỹ năng nghiên cứu thực địa và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp luận cứ bảo tồn văn hóa gắn với sinh kế DLCĐ cho địa phương.
Chương 2. Tổng quan tài liệu
Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLCĐ (nguồn gốc từ thập niên 1970, định nghĩa của REST, TS. Võ Quế, phân loại 5 nhánh DLCĐ, các điều kiện phát triển) và lý thuyết văn hóa học (164 định nghĩa văn hóa theo Kroeber & Kluckhohn, các quan điểm của Tylor, Sapir, Linton, UNESCO, sự biến đổi và tụt hậu văn hóa). Chương trình bày tổng quan về dân tộc H’mông trên thế giới (khoảng 6 triệu người, chủ yếu ở Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Hoa Kỳ; phân loại H’mông Trắng, H’mông Xanh theo Cohen, 2000) và tại Việt Nam (nghề dệt lanh, rèn đúc, chạm bạc, chợ tình, trang phục truyền thống, văn học dân gian). Đồng thời, tác giả tổng hợp tình hình nghiên cứu thực tế tại Sa Pa thông qua số liệu khảo sát của AC Nielsen và các công trình của Dương Văn Sáu (2016), Nguyễn Thị Trà My (2017), Đỗ Cẩm Thơ (2015), chỉ ra người H’mông tham gia nhiều vào dịch vụ nhưng nhận về tỷ suất lợi ích kinh tế thấp hơn so với các doanh nghiệp lữ hành và các nhóm dân cư khác.
Chương 3. Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này quy định đối tượng nghiên cứu là thực trạng văn hóa H’mông, công tác bảo tồn và hoạt động du lịch tại xã Hoàng Liên; phạm vi không gian là toàn bộ địa bàn xã Hoàng Liên. Xác định 5 nội dung nghiên cứu chi tiết tương ứng với các bước phân tích tự nhiên – kinh tế – xã hội, thực trạng văn hóa, thực trạng bảo tồn, tiềm năng DLCĐ và đề xuất giải pháp. Trình bày quy trình thu thập tài liệu thứ cấp từ UBND xã, phương pháp khảo sát sơ cấp mẫu $n=60$ (30 du khách, 30 hộ dân) và quy trình xử lý số liệu trên Microsoft Excel.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận, gồm các mảng phân tích chính:
-
Điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội xã Hoàng Liên: Xã nằm ở phía tây nam Sa Pa, diện tích 69,03 km², dân số 5.319 người (năm 2018), mật độ 77 người/km², gồm 8 thôn bản nằm dưới chân núi Fansipan ở độ cao 1.650 m. Cơ cấu nông nghiệp duy trì diện tích lúa 345,5 ha (sản lượng năm 2021 đạt 1.762 tấn, năm 2022 đạt 1.725 tấn), ngô 80 ha (sản lượng 344–352 tấn), triển khai các dự án lúa chất lượng cao (Nghi hương 20 ha đạt 65 tạ/ha; Séng cù 20 ha đạt 49 tạ/ha), 6 ha khoai tây tăng vụ, 5 ha cải dầu thôn Lồ, dự án 300 chậu hoa địa lan (300 triệu đồng) tại thôn Sín Chải; đàn gia súc năm 2021 có 3.205 con, năm 2022 giảm còn 2.208 con do dịch tả lợn châu Phi và dịch viêm da nổi cục; diện tích rừng thảo quả đạt 801,01 ha (770 ha cho thu hoạch), tỷ lệ che phủ rừng đạt 73%. Hoạt động thương mại dịch vụ năm 2021 có 106 cơ sở (17 lưu trú, 25 ăn uống, 64 bán lẻ đồ lưu niệm) đón 136.000 lượt khách tại Cát Cát; năm 2022 còn 32 cơ sở hoạt động. Về môi trường, lượng chất thải rắn không phân hủy từ du khách tăng cao và bị xả thải ở khu vực đầu nguồn suối.
-
Thực trạng phát triển du lịch Sa Pa và hành vi du khách: Lượng khách đến Sa Pa tăng từ 826.120 lượt (2014) lên hơn 2,4 triệu lượt (2018), 9 tháng đầu năm 2019 đạt 2,26 triệu lượt; giảm sâu trong dịch Covid-19 (cuối 2022 đón khoảng 107.000 lượt; tháng 02/2023 đạt 772.000 lượt với 29.500 lượt khách nội địa/quốc tế). Kết quả khảo sát 30 du khách cho thấy kênh tiếp cận thông tin chủ yếu là người thân/bạn bè (63,3%) và Internet (60%), trong khi hãng lữ hành chỉ chiếm 16,7%. Lý do chính đến Sa Pa là sản phẩm du lịch đa dạng (76,7%) và nghỉ ngơi thư giãn (66,7%). Có 46% khách đến lần đầu; thời gian lưu trú 1–2 ngày chiếm 43%, 3–5 ngày chiếm 37%, trên 5 ngày chỉ chiếm 7%; mức chi tiêu 3–5 triệu đồng chiếm 37%, 1–3 triệu chiếm 33%, trên 10 triệu chiếm 10%. Đánh giá mức độ ưa thích tài nguyên ghi nhận sự chênh lệch lớn: các điểm tự nhiên/nhân tạo hiện đại được đánh giá rất thích cao (Sun World Fansipan Legend đạt 86,7%, Cổng Trời 56,6%, Hàm Rồng 56,7%), trong khi tài nguyên nhân văn bị đánh giá không thích lên tới 81,3% (nghi lễ người Dao 93,3%, cưới hỏi ma chay H’mông 90%, phong tục tập quán 80%, múa khèn 80%). Tỷ lệ khách chắc chắn quay lại đạt 66,7% (20/30 khách), có thể quay lại đạt 23,3%, không biết chiếm 10%.
-
Thực trạng văn hóa và bảo tồn văn hóa dân tộc H’mông tại xã Hoàng Liên: Văn hóa H’mông Leng biểu hiện qua hôn nhân truyền thống, trang phục thổ cẩm đen/chàm sẫm thêu sáp ong tỉ mỉ, lễ hội Gầu Tào (dựng cây nêu tạ ơn thần núi cầu tự), kiến trúc nhà ba gian trình tường bằng đất lợp ván gỗ, nghề dệt vải 4 màu chủ đạo (xanh, đỏ, trắng, vàng) nhuộm chàm và chạm khắc bạc. Khảo sát 30 người dân về mức độ hiểu biết văn hóa ghi nhận: Tết cổ truyền (80%), Trang phục truyền thống (73,3%), Kiến trúc nhà cửa (66,7%), Ca từ truyền thống (66,7%), Cưới hỏi (63,3%), Múa khèn (53,3%). Đánh giá về mức độ bảo tồn: 73,3% (22 người) khẳng định văn hóa đang bị mai một một phần, 16,7% cho rằng giữ được như trước, chỉ 6,7% cho rằng phát triển hơn.
-
Kiến thức người dân và tiềm năng phát triển DLCĐ: Người dân địa phương đã tham gia vào dịch vụ vận chuyển/hướng dẫn (Cát Cát có 5 HDV, Lao Chải 12 HDV, xe ôm và khuân vác Fansipan); cung cấp lưu trú homestay (A Chinh’s homestay tại thôn Lồ Lao Chải); đội văn nghệ dân gian phục vụ khách sạn; sản xuất thổ cẩm tại thôn Sín Chải. Về thu nhập bình quân: 33% hộ đạt 25–50 triệu/năm, 27% đạt 50–100 triệu/năm, 17% đạt 10–25 triệu/năm, 13% dưới 10 triệu/năm và 10% trên 100 triệu/năm. Đánh giá tiềm năng cho thấy 83% khách đến địa bàn là khách quốc tế; 57% người dân rất thích và 40% thích phát triển du lịch; 40% đánh giá du lịch tác động tốt và 33% đánh giá rất tốt đến đời sống. Tác giả tổng kết các nhược điểm nội tại: trình độ học vấn thấp, thiếu vốn, thiếu cơ sở hạ tầng đạt chuẩn, nguy cơ đứt gãy truyền dạy nghề thủ công cho giới trẻ, ô nhiễm môi trường do tập quán nuôi gia súc gần nhà ở.
Chương 5. Kết luận và kiến nghị
Chương tổng kết lại toàn bộ các phát hiện nghiên cứu về tiềm năng tự nhiên, thực trạng văn hóa đang mai một và cơ cấu dịch vụ du lịch tại xã Hoàng Liên. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần có chính sách hỗ trợ vốn, đào tạo nguồn nhân lực du lịch bản địa, thành lập các câu lạc bộ văn hóa dân gian và quy hoạch không gian làng nghề gắn với tuyến du lịch trải nghiệm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa được thực trạng hoạt động du lịch và mức độ bảo tồn văn hóa tại địa bàn nghiên cứu qua hệ thống số liệu khảo sát thực tế:
| Chỉ số khảo sát |
Nhóm đối tượng |
Tỷ lệ ghi nhận tiêu biểu |
| Nguồn biết đến Sa Pa |
Du khách ($n=30$) |
Bạn bè/người thân: 63,3%; Internet: 60%; Lữ hành: 16,7% |
| Lý do chọn du lịch Sa Pa |
Du khách ($n=30$) |
Sản phẩm đa dạng: 76,7%; Thư giãn/nghỉ ngơi: 66,7% |
| Mức chi tiêu chuyến đi |
Du khách ($n=30$) |
3–5 triệu đồng: 37%; 1–3 triệu đồng: 33%; >10 triệu đồng: 10% |
| Mức độ ưa thích tài nguyên nhân văn |
Du khách ($n=30$) |
Đánh giá "Không thích": 81,3%; "Rất thích": 2,9% |
| Khả năng quay lại Sa Pa |
Du khách ($n=30$) |
Chắc chắn quay lại: 66,7%; Có thể quay lại: 23,3% |
| Mức độ hiểu biết văn hóa H'mông |
Người dân ($n=30$) |
Tết cổ truyền: 80%; Trang phục: 73,3%; Nhà cửa/Ca từ: 66,7%; Múa khèn: 53,3% |
| Đánh giá tình trạng văn hóa bản địa |
Người dân ($n=30$) |
Bị mai một một phần: 73,3%; Giữ nguyên như trước: 16,7% |
| Thu nhập bình quân hộ gia đình |
Người dân ($n=30$) |
25–50 triệu/năm: 33%; 50–100 triệu/năm: 27%; <10 triệu/năm: 13% |
Dựa trên kết quả khảo sát, tác giả đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể:
- Bảo tồn văn hóa truyền thống: Thành lập các câu lạc bộ văn hóa dân gian (CLB dạy thổi khèn, CLB dân ca dân vũ H’mông); mở các lớp tập huấn nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ; ngăn chặn tình trạng sử dụng trang phục ngoại lai làm sai lệch hình ảnh văn hóa dân tộc tại các khu du lịch Cát Cát, Lao Chải.
- Phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng: Quy hoạch các mô hình làng nghề thủ công truyền thống (dệt lanh, vẽ sáp ong, chạm khắc bạc); bảo tồn kiến trúc nhà trình tường làm cơ sở lưu trú homestay đạt chuẩn; khai thác cảnh quan ruộng bậc thang thôn Lao Chải Sán và vườn địa lan thôn Sín Chải thành các điểm tham quan trải nghiệm.
- Đào tạo và quản lý: Đào tạo kỹ năng du lịch, ngoại ngữ cho người dân bản địa; cải thiện hệ thống thu gom và xử lý rác thải du lịch tại đầu nguồn suối, loại bỏ thói quen chăn nuôi thả rông gia súc gây mất vệ sinh môi trường.
Đóng góp của đề tài nằm ở việc cung cấp bức tranh dữ liệu thực địa cập nhật về xã Hoàng Liên sau khi sáp nhập địa giới hành chính, phản ánh trung thực thái độ của du khách đối với tài nguyên du lịch nhân văn Sa Pa và tâm tư của đồng bào H’mông đối với việc giữ gìn bản sắc tộc người.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:
- Quy mô mẫu khảo sát sơ cấp còn nhỏ ($n = 60$ phiếu: 30 khách du lịch và 30 hộ dân), phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên mang tính đại diện tương đối, chưa phân tầng chi tiết theo từng nhóm khách quốc tế hay độ tuổi của người dân.
- Dữ liệu thứ cấp chịu ảnh hưởng bởi giai đoạn dịch bệnh Covid-19 (2020–2021) và quá trình sáp nhập địa giới hành chính mới của xã Hoàng Liên, dẫn đến một số chỉ tiêu dịch vụ thương mại biến động mạnh giữa các năm 2021 và 2022.
Hướng nghiên cứu mở rộng được gợi ý gồm:
- Mở rộng quy mô điều tra định lượng du khách theo từng phân khúc thị trường khách quốc tế trọng điểm để xác định chính xác nhu cầu trải nghiệm văn hóa H’mông.
- Nghiên cứu cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế giữa các công ty lữ hành, ban quản lý điểm du lịch và cộng đồng hộ dân người H’mông tham gia chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Du lịch, Du lịch sinh thái, Quản lý tài nguyên, Dân tộc học và Văn hóa học trong việc tham khảo phương pháp điều tra thực địa, bảng hỏi khảo sát nhận thức cộng đồng và cách tiếp cận phát triển du lịch dựa vào cộng đồng.
- Cán bộ quản lý văn hóa, chính quyền thị xã Sa Pa và xã Hoàng Liên trong việc hoạch định chính sách bảo tồn làng nghề truyền thống, quản lý trật tự xây dựng homestay và kiểm soát chất lượng quà lưu niệm bản địa.
- Các doanh nghiệp lữ hành và tổ chức phát triển cộng đồng quan tâm đến việc xây dựng tour du lịch trải nghiệm văn hóa, du lịch sinh thái nông nghiệp gắn với đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng quy mô mẫu điều tra sơ cấp là bao nhiêu và phân bổ như thế nào?
Khóa luận sử dụng tổng quy mô mẫu điều tra nhanh trực tiếp là 60 phiếu, phân bổ đồng đều gồm 30 phiếu khảo sát khách du lịch ngẫu nhiên tại thị xã Sa Pa và 30 phiếu khảo sát người dân địa phương tại 8 thôn thuộc xã Hoàng Liên (mỗi thôn phỏng vấn từ 3–4 hộ gia đình bất kỳ).
2. Du khách đánh giá như thế nào về mức độ thu hút giữa tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn tại Sa Pa?
Có sự chênh lệch lớn trong đánh giá của du khách: các điểm tài nguyên tự nhiên và khu giải trí nhân tạo hiện đại được đánh giá "Rất thích" ở mức cao (Sun World Fansipan Legend đạt 86,7%, Cổng Trời đạt 56,6%, Hàm Rồng đạt 56,7%), trong khi tài nguyên du lịch nhân văn (lễ hội, phong tục tập quán, cưới hỏi ma chay, múa khèn) có tỷ lệ đánh giá "Không thích" trung bình lên tới 81,3%.
3. Tỷ lệ người dân xã Hoàng Liên nhận định văn hóa dân tộc H’mông đang bị mai một là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát 30 hộ dân cho thấy có 73,3% ý kiến (22 người) đánh giá văn hóa dân tộc H’mông đang bị mai một một phần; 16,7% (5 người) cho rằng vẫn giữ được như trước đây; và chỉ có 6,7% (2 người) nhận định văn hóa được giữ gìn và phát triển hơn trước đây.
4. Dân tộc H’mông tại xã Hoàng Liên thuộc nhóm nào và đang đối mặt với nguy cơ cụ thể nào về trang phục truyền thống?
Đồng bào H’mông tại xã Hoàng Liên thuộc nhóm H’mông Leng (H’mông Xanh). Nguy cơ nổi cộm là việc du nhập các loại trang phục ngoại lai giá rẻ ("hàng Tàu") vào các điểm du lịch như Cát Cát, Lao Chải khiến người dân giảm mặc trang phục truyền thống tự dệt nhuộm cầu kỳ, làm sai lệch nhận thức của du khách về trang phục nguyên bản của người H’mông Sa Pa.
5. Tỷ lệ du khách thể hiện nguyện vọng quay trở lại Sa Pa sau chuyến đi đạt mức bao nhiêu?
Trong tổng số 30 du khách được khảo sát, có 66,7% (20 người) khẳng định chắc chắn sẽ quay trở lại Sa Pa; 23,3% (7 người) cho biết có thể quay lại; và 10,0% (3 người) trả lời không biết hoặc không có ý định quay lại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vàng A Khay đã phản ánh bức tranh thực địa toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và hoạt động du lịch tại xã Hoàng Liên, thị xã Sa Pa. Thông qua các dữ liệu khảo sát sơ cấp, nghiên cứu chỉ rõ thực trạng mai một bản sắc văn hóa H’mông và sự thiếu hụt các sản phẩm du lịch nhân văn chất lượng cao dù tiềm năng cộng đồng rất lớn. Hệ thống giải pháp được đề xuất tập trung vào việc thành lập các câu lạc bộ văn hóa bản địa, phục hồi làng nghề truyền thống và nâng cao năng lực làm du lịch cho người dân, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế bền vững gắn liền với bảo tồn di sản tộc người.