Chương I KHÁI QUÁT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CHÍNH TRỊ CỦA LÊ THÁNH TÔNG I- CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA LÊ THÁNH TÔNG Lê Thánh Tông tên thật là Lê Tư Thành, con thứ tư của Lê Thái Tông. Cuối năm 1442, Hoàng đế Thái Tông mất, Thái tử Lê Bang Cơ lên ngôi tức Lê Nhân Tông, phong Tư Thành làm Bình Nguyên vương. Năm 1459, người con cả của Thái Tông là Lê Nghi Dân đột nhập cung cấm giết vua Nhân Tông. Nghi Dân tự lập làm vua, cải phong Tư Thành làm Gia vương.
Nghi Dân chỉ ở ngôi được 8 tháng. Ngày 6 tháng 6 âm lịch năm 1460, các tể phụ Nguyễn Xí, Đinh Liệt, làm binh biến, bức tử Nghi Dân. Hai ngày sau, họ bàn nhau đón Tư Thành nối ngôi. Lê Thánh Tông lên ngôi hoàng đế, xưng làm Thiên Nam Động chủ, đặt niên hiệu là Quang Thuận, sau đổi thành Hồng Đức.
Thời kỳ trị vì của Lê Thánh Tông đánh dấu sự hưng thịnh của nhà Hậu Lê nói riêng và chế độ phong kiến Việt Nam nói chung với tên gọi là Hồng Đức Thịnh Thế - 7 một trong bốn thời kỳ hưng thịnh nhất của triều đại phong kiến Việt Nam. Mẹ Vua Lê Thánh Tông là bà Quang Thục Hoàng thái hậu Ngô Thị, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. Trước kia, khi còn là tiệp dư, thái hậu đi cầu tự, mơ thấy thượng đế ban cho một tiên đồng, thế rồi có thai. Tục truyền rằng thái hậu khi sắp ở cữ, nhân thư thả chợp mắt, mơ thấy mình đến chỗ thượng đế, thượng đế sai một tiên đồng xuống làm con thái hậu, tiên đồng chần chừ mãi không chịu đi, thượng đế giận, lấy cái hốt ngọc đánh vào trán chảy máu ra, sau tỉnh dậy, rồi sinh ra vua, trên trán vẫn còn dấu vết lờ mờ như thấy trong giấc mơ, mãi đến khi chết, vết ấy vẫn không mất1.
Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442). Lê Thánh Tông sinh ra có thiên tư đẹp, thần sắc khác thường, vẻ ngoài tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang - mang tố chất của bậc quân vương, bậc trí dũng để giữ nước. Năm Thái Hòa thứ 3 (1445), ông được phong Bình Nguyên vương, làm phiên vương ở kinh sư, hằng ngày cùng học ở Kinh diên với các vương khác. Bấy giờ, quan ở Kinh diên là Trần Phong thấy Lê Thánh Tông dáng điệu đường hoàng, thông minh hơn hẳn người khác, trong bụng ________________ 1.
Xem Đại Việt sử ký toàn thư, quyển XII, Nxb. Văn học và Công ty Văn hóa Đông A, Hà Nội, 2017, tr. 8 cho là bậc khác thường. Lê Thánh Tông có lối sống kín đáo, không lộ vẻ anh minh ra ngoài, chỉ vui với sách vở cổ kim, nghĩa lý thánh hiền.
Bẩm sinh ra đã biết, mà sớm khuya không lúc nào rời sách vở, tài năng lỗi lạc trời cho, mà chế tác lại càng đặc biệt lưu tâm, ưa điều thiện, thích người hiền, chăm chắm không hề biết mỏi1. Với những phẩm chất đặc biệt này nên trong sự nghiệp chính trị, Lê Thánh Tông luôn ý thức rất cao về trọng trách của mình: “Lòng vì thiên hạ những sơ âu, Thay việc trời dám trễ đâu. Trống dời canh còn đọc sách, Chiêng xế bóng chẳng thôi chầu”. Đến khoảng năm Diên Ninh, Nghi Dân tiếm ngôi, phong Lê Thánh Tông là Gia vương và xây phủ đệ ở bên hữu nội điện cho Lê Thánh Tông ở.
Khi các đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt cùng nhau đem cấm binh đánh bọn Đồn, Ban, rồi phế Nghi Dân (tháng 6 năm 1460) và rước Cung Vương Khắc Xương lên ngôi nhưng ông này “cố ý từ chối” bèn “đón Vua (tức Lê Thánh Tông, lúc ấy 18 tuổi) ở Tây Kinh thành để về lên ngai”. Sự kiện này dường như ngẫu nhiên nhưng lại chính là cơ may cho lịch sử Đại Việt suốt nửa cuối thế kỷ XV. Xem Đại Việt sử ký toàn thư, quyển XII, Nxb. Văn học và Công ty Văn hóa Đông A, Hà Nội, 2017, tr.
9 Lê Thánh Tông lên ngôi vua vào ngày 26 tháng 6 năm 1460 và trị vì trong 38 năm. Ông là vị hoàng đế trị vì lâu nhất thời Hậu Lê - giai đoạn Lê sơ trong lịch sử Việt Nam. Trong 10 năm đầu lấy niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) và 28 năm sau ông lấy niên hiệu Hồng Đức (1470-1497). Trước khi Lê Thánh Tông lên ngôi vua lịch sử Việt Nam là cả một giai đoạn khá dài (gần 20 năm) triều nhà Lê rơi vào khủng hoảng; đỉnh điểm là vụ giết Nguyễn Trãi (1442) và cuối cùng là sự kiện Nghi Dân cướp ngôi (1459).
Trung hưng ký đã viết lại như sau: “Nhân Tôn mới lên hai tuổi, sớm lên ngôi vua (1442), Thái hậu Nguyễn Thị là gà mái gáy mai. Đô đốc Lê Khuyển là thỏ khôn giữ mệnh. Vua đàn bà mắt quáng, buông rèm ngồi chốn thâm khuê, bọn họ ngoại lòng tham, giúp ngược hoành hành trong nước. Kẻ thân yêu chỉ giữ việc, do vậy tệ hối lộ công khai.
Việc văn giáo như băng tan, hiền tài bó cánh. Túc Nho như Lý Tử Tấn, Trình Thuấn Du thì đưa vào chỗ nhàn, phường dốt đặc như ong nổi dậy, chó chuột nhe răng. Tể thần như Lê Sung, Lê Sát thì dốt đặc, không phân biệt lục súc; chẳng hiểu rõ bốn mùa. Người giỏi như Trịnh Khả, Khắc Phục thì vội giết đi, người tài như Nguyễn Mộng Tuân thì ném vào đại họa.
Oan uổng không kêu đâu được, công việc đều đổ nát dần. Văn giai như Đào Công Soạn, tuổi gần bát tuần; Tể thần như Lê Ê, không biết một chữ. Người trẻ không biết nghĩ, tự ý làm càn; người già chẳng chết đi, thành 10 ra tai hại. Hiền tài là rường cột của triều đình, chẳng còn ai cả; Văn chương là khí vận của nhà nước, hoang phế hết rồi.
Kẻ xiểm nịnh được nghe theo, bọn đạo bút được sử dụng. Trước tình trạng suy thoái, rối ren đó, việc Lê Thánh Tông lên ngôi khi 18 tuổi, rất khó có thể làm mọi thứ lập tức sẽ khác đi. Đó là chưa kể đến một hiện trạng ngoài ý muốn khó khăn cho việc trị vì thiên hạ của Lê Thánh Tông đó là: trong triều thần còn đẻ ra một số đông các công thần “kép” (những người có công phò Thái Tổ, bây giờ lại có công phò Thánh Tông nữa). Quả thật, Lê Thánh Tông đã có trong tay một hiện trạng đất nước, triều đình rối ren, sa sút.
Điều này đặt ra một câu hỏi lớn, rằng Lê Thánh Tông sẽ phải tiến hành các công việc “nội trị” ra sao?2. Trong thời gian trị vì, Lê Thánh Tông đã đề xuất nhiều cải cách trong hệ thống quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục và luật pháp. Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng mang niên hiệu Vua Lê Thánh Tông còn lại cho đến nay là một trong những bộ luật hoàn chỉnh và có nhiều điểm tiến bộ nhất dưới thời các triều đại phong kiến nước ta. Ngoài ra, ông đã có công lớn trong mở mang bờ cõi Đại Việt.
Dẫn theo Almanach: Những nền văn minh thế giới, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2011, tr. Xem Almanach: Những nền văn minh thế giới, Sđd, tr. 11 Về cuộc đời và sự nghiệp của Lê Thánh Tông có nhiều ý kiến khác nhau, song nhận xét mang tính khái quát của những người đương thời được ghi lại trong sách sử.
Quốc sử chép: “Vua sáng lập chế độ, văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc anh hùng tài lược, dù Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không hơn được. Song công việc thổ mộc quá chế độ xưa, tình nghĩa anh em thiếu lòng nhân ái, đó là chỗ kém”1. Như vậy, gồm cả “khen” cả “chê”, nhưng “khen” là chính yếu. Ca ngợi Lê Thánh Tông sử gia Vũ Quỳnh viết: “Vua tư trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng tài đại lược, võ giỏi văn hay, mà Thánh học rất chăm”., và chỉ chê một điều là “nhiều phi tần quá”2.
Lê Thánh Tông mất tháng Giêng, năm Hồng Đức thứ 28 (1497), Thụy hiệu do người kế vị ông, Lê Hiến Tông truy tôn là Sùng thiên Quảng vận Cao minh Quang chính Chí đức Đại công Thánh văn Thần vũ Đạt hiếu Thuần hoàng đế. Khi Lê Thánh Tông mất, Thân Nhân Trung soạn một bài tán, trong đó có những câu đánh giá rất cao: “Lấy tin thực đãi trăm quan, Rộng vỗ yên đối triệu tính Văn giáo gần xa thấm nhuần, Vũ công đó đây bình định”. Almanach: Những nền văn minh thế giới, Sđd, tr. 12 II- KHÁI QUÁT VỀ NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG “TRỊ NƯỚC, AN DÂN” CỦA LÊ THÁNH TÔNG 1.
Một số thành tựu trong tư tưởng “trị nước, an dân” của Lê Thánh Tông Trong 38 năm trị nước, Lê Thánh Tông đã ban hành nhiều chính sách để hoàn thiện bộ máy quan chế, hành chính, kinh tế, giáo dục - khoa cử, luật pháp và áp dụng các giá trị tân Nho giáo vào việc trị nước, an dân, làm cho Đại Việt trở thành một quốc gia ổn định và văn minh. Ông xây dựng một hệ thống quan liêu đồ sộ từ trung ương tới địa phương, với tổng số quan trong, ngoài là hơn 5. Lê Thánh Tông còn chia đất nước làm 12 thừa tuyên và phủ Phụng Thiên trực thuộc đế đô Đông Kinh, sai quan nghiên cứu hình thế núi sông mà đóng thành bản đồ Hồng Đức. Ông rất chú trọng tới việc tiến cử, cất nhắc quan lại tài năng, liêm khiết và nghiêm khắc bài trừ tệ tham nhũng, thói biếng nhác, phóng đãng và vô đạo đức trong giới quan chức2.
Lê Thánh Tông là một trong những nhân vật lịch sử có nhiều đóng góp đặc biệt hiệu quả cho đất nước và dân tộc. Xem Đào Duy Anh: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr. Taylor: A History of the Vietnamese, Cambridge, University, Press, 2013, tr.
13 Điều đó được thể hiện từ việc giữ gìn và bảo vệ biên cương, bờ cõi, lãnh thổ, xây dựng và phát triển sức mạnh dân tộc, cho tới những đóng góp trong các lĩnh vực cụ thể như: văn học - nghệ thuật, lịch sử, địa lý, khoa cử giáo dục, chính trị - pháp luật, ngôn ngữ dân tộc. Những công lao đó đã tạo thành những quan hệ giá trị mang đặc trưng thời đại - thời đại Hồng Đức (như luật Hồng Đức, Hồng Đức bản đồ, Hồng Đức khoa cử, Hồng Đức tao đàn, Hồng Đức quốc âm. Tất cả những đóng góp của Lê Thánh Tông đã để lại ảnh hưởng lâu dài trong nhiều đời và những triều đại sau.