Chương 1 Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX và vấn đề phụ nữ 1. Khi giới nữ trở thành một vấn đề xã hội 1. Phụ nữ trong diễn ngôn truyền thống Việt Nam là một đất nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi chế độ phong kiến tồn tại một cách dai dẳng và bền vững. Giai cấp thống trị phong kiến đã sử dụng các phương tiện khác nhau để biến hệ tư tưởng Nho giáo trở thành ý thức hệ chi phối nhận thức, hành vi, thiết chế, tâm lí và tập tục xã hội.
Với tính chất nam quyền mạnh mẽ, Nho giáo đã phân định không gian và phạm vi rạch ròi cho nam-nữ, trong đó, vị thế chủ chốt tất yếu là nam giới. Trong xã hội Nho giáo, người đàn ông nắm trong tay quyền quyết định và phụ nữ là người phục tùng (phu xướng, phụ tùy). Những quan niệm “phụ nhân nan hóa”, “tam tòng, tứ đức” của Nho giáo là mạng lưới lí thuyết phản động đã tạo ra sự bất bình đẳng giới trong xã hội phương Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Thứ nhất, phụ nữ bị xem là thấp kém hơn và chỉ đáng để phục vụ cho nam giới.
Quan niệm đó ấn định rất rõ ràng trong đời sống văn hóa, người phụ nữ luôn bị coi và tự coi là “phái yếu”, tồn tại một cách “khiêm nhường” bên cạnh “phái mạnh”. Chữ “tài”, chữ “trí” chỉ gắn liền với người quân tử, kẻ trượng phu. Phụ nữ bị xếp chung hàng với hạng tiểu nhân. Họ không có quyền đi học hay tham gia thi cử, không có mặt trong bộ máy quản lí làng xã hay có bất kì tiếng nói nào trong những vấn đề “nghị sự”.
Thực tế ấy xuất phát từ một quan niệm đầy miệt thị: “Phụ nhân nan hóa”. Khổng Tử cho 10 rằng: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vi nan dưỡng dã. Cận chi, tắc bất tốn, viễn chi tắc oán” (chỉ có đàn bà và bọn tiểu nhân là khó nuôi dạy. Hễ ta gần gũi thì khinh nhờn, hễ ta xa cách thì oán ghét).
Từ đó nảy sinh tư tưởng trọng nam khinh nữ, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, tạo nên chế độ tôn tộc, gia trưởng, cha truyền con nối theo người đàn ông. Thứ hai, Nho giáo qui định phụ nữ phải giữ đạo “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử). Thân phận người phụ nữ được xác định phụ thuộc tuyệt đối vào đàn ông, “khuê môn bất xuất”. Như một qui ước đã được mặc định, phụ nữ có bổn phận lớn nhất là chăm sóc và phụng dưỡng những người đàn ông (cha, chồng, con trai), theo từng giai đoạn trong đời mình.
Khi chồng chết, người phụ nữ góa vẫn phải thủ tiết thờ chồng. Trương Vĩnh Ký khi trích lời cổ nhân Nho gia, trong Minh Tâm Bửu Giám phần nói về phụ hạnh, có viết: “Trong đàn bà góa, có người nghèo khổ, có nên lấy chồng lại nữa chăng? Và trong trường hợp này câu trả lời: sự đói rét là sự rất nhỏ, chứ sự lỗi tiết là điều rất lớn”. Nếu lỗi tiết, người phụ nữ thậm chí có thể phải chịu hành hạ, ngược đãi một cách dã man nhất2. Sự bất bình đẳng thể hiện ở chỗ: Người phụ nữ giữ gìn trinh tiết cho một chồng, trong khi người đàn ông có thể có nhiều vợ, được bỏ vợ khi người vợ không đẻ được con trai hoặc thất xuất (phạm một trong 7 tội: không con, dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, lắm lời, trộm cắp, ghen tị, bệnh hiểm nghèo).
Trong chế độ phong kiến Việt Nam, luật Hồng Đức (ban hành năm 1483) và luật Gia Long (ban hành năm 1815) đều công nhận và bảo vệ chế độ gia tộc phụ quyền, thể hiện rõ nhất ở tình trạng đa thê. Chế độ cung tần thực chất là đỉnh cao phát triển nhất và dã man nhất của chế độ đa thê. 2 Luật Gia Long - điển hình cho sự áp bức phi nhân đối với người phụ nữ - đã đề ra các cực hình, nhục hình đối với họ như: gọt gáy bôi vôi, thả bè trôi sông, voi giày ngựa xéo… 11 Nguyên tắc thành văn “tam tòng” thực chất là cái cùm để giam cầm nữ giới, “đẩy vị trí của họ xuống hàng kẻ nô lệ, nô lệ không chỉ về kinh tế, chính trị, văn hóa, mà nô lệ cả về tình cảm và tình dục” [3,25]. Thứ ba, Nho giáo đặt ra nguyên tắc người phụ nữ phải trau dồi “tứ đức”.
“Tứ đức” là “nữ hữu tứ hạnh” gồm: Phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công – qui định khắt khe về hành vi đạo đức và hành vi sinh hoạt của người phụ nữ 3. Việc trau dồi “tứ đức” yêu cầu phụ nữ phải thực hiện trong cuộc sống hằng ngày. Những tiêu chuẩn này thực chất là công cụ áp chế tinh thần người phụ nữ, ăn sâu vào tiềm thức của họ quán tính: “tự mình tu dưỡng, tự mình ràng buộc, tự mình nhược hóa mình”. Thuyết “tam tòng, tứ đức”, hay “phụ nhân nan hóa” là rào cản vô hình, hà khắc trói buộc tự do và kìm hãm sự phát triển của người phụ nữ.
Nó cũng là thước đo duy nhất để xã hội định giá họ, đồng thời, làm cơ sở đưa vào luật tục và văn chương; đồ ng thời các hình thức văn chương cũng luôn đươ ̣c vâ ̣n du ̣ng để chuyể n tải những bài gia huấ n hoă ̣c bô ̣c lô ̣ quan điể m của người viế t về người phu ̣ nữ. Nhiều nho gia đã dành thời gian tâm sức soạn các tác phẩm Gia huấn, Nữ huấn với mục đích giáo dục “tại gia” cho phụ nữ, thay thế cho giáo dục học đường. Các bài gia huấn, nữ huấn thường tập hợp những lời dạy dỗ, hướng dẫn, bao quát toàn bộ cuộc đời một người phụ nữ từ khi còn bé ở nhà với cha mẹ cho đến khi làm dâu và tới lúc về già. Hình thức văn bản hầu hết dưới dạng văn vần, thể loại lục bát, dễ nhớ, dễ truyền khẩu, và vì thế “có thể 3 “Công” là công việc.
Công việc của người phụ nữ truyền thống là dành cho gia đình, tề gia nội trợ, sinh con đẻ cái để dòng họ đông đúc, phục vụ cả nhà chồng, lựa ý chồng để “nâng khăn, sửa túi” hợp đạo làm vợ. “Dung” là dung nhan, dung mạo, dáng dấp thể hiện ra ở bên ngoài gương mặt, trên thân hình. Dung đòi hỏi người phụ nữ ra vào e lệ, đi đứng khép nép. Dù trong lòng đau khổ hay giận dữ vẫn phải kìm nén cho gương mặt nhẹ nhàng, tươi cười.
“Ngôn” là lời ăn, tiếng nói. “Ngôn” đòi hỏi người phụ nữ phải dùng những lời lẽ ngọt ngào, lựa lời cho đúng ý người nghe để không bị chạnh lòng, giận dữ. Đàn bà con gái không được cười to, nói lóng, bàn vào mọi việc trong nhà. “Hạnh” là đức hạnh, phẩm giá.
“Hạnh” đòi hỏi người phụ nữ phải chịu thương chịu khó, phục tùng chồng và gia đình chồng. Đàn bà suốt đời phải giữ tiết hạnh, thủy chung dù chồng có năm thê bảy thiếp. 12 làm lời khuyên răn được, làm châm ngôn cho bọn đàn bà con gái [51], có thể lưu truyền qua nhiều thế hệ. Cổ huấn nữ ca của tác giả Đặng Xuân Bảng là một tác phẩm tiêu biểu cho việc giáo dục phụ nữ tại gia.
Cổ huấn nữ ca gồm 468 câu, viết theo thể thơ lục bát. Tác phẩm giảng giải chi tiết, cụ thể mọi vấn đề phụ nữ cần nhận thức, ứng xử, trong đó, Đặng Xuân Bảng dành 39 câu (câu 369 đến câu 408) để lưu ý phụ nữ về cách xử thế trong trường hợp chẳng may phải chịu cảnh góa chồng: Kiên trinh hai chữ là đầu, Đá trơ trơ vững, gương lầu lầu trong… … Dẫu mà tuổi trẻ đầu xanh Quyết lòng ở vậy, chẳng tình trăng hoa Bướm ong đâu mặc người ta Nước trong, trăng sáng mới là gái trinh… Phụ nữ được khuyến khích không tái giá, ở vậy thờ chồng, nuôi con. Và phẩm giá cao đẹp nhất của họ được khẳng định là đức đoan chính, ý thức giữ gìn tiết trinh. Quan niệm được rao giảng phổ cập bằng thơ ca đó đã chi phối mạnh mẽ số phận của người phụ nữ qua nhiều thế hệ.
Song hành với sự nêu gương và đề cao đến mức cực đoan về đức hạnh, nhà nho né tránh hoặc phê phán vẻ đẹp dung mạo của người phụ nữ: Ăn mặc chớ mỹ miều chải chuốt Hình dung đừng ve vuốt ngắm trông (Gia huấn ca4) Nguyễn Trãi không dưới một lần cảnh báo về nguy cơ tiềm ẩn hậu quả “mất quốc gia, lìa thiên hạ, bại tan gia thất, tổn hại tinh thần” từ nữ sắc: 4 Bản Gia huấn ca được cho là bản gia huấn đầu tiên và là bản được nhắc đến nhiều nhất từng được công bố gắn với tên tuổi của Nguyễn Trãi. Gia huấn ca dạy cho đàn bà, con gái biết an phận với vai trò thứ yếu và phụ thuộc trong xã hội. 13 Sắc là giặc đam làm chi Thuở trọng còn phòng có khi suy Trụ mất quốc gia vì Đát Kỷ Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi Bại tan gia thất đời từng thấy Tổn hại tinh thần sự ích chi Phu phụ đạo thường chăng được chớ Nối tông họa phải một đôi khi (Giới sắc) Nữ sắc - một thứ tự thân nó đáng được trân trọng, nâng niu, đã bị các nhà đạo đức phong kiến “hạ giá” xem như một thứ cám dỗ, „tội đồ”, cần phê phán và loại bỏ. Lê Thánh Tông khi vịnh về Dương Quí Phi đã coi người con gái đẹp này là yêu ma mê hoặc Đường Huyền Tông, gây nên viễn cảnh mù mịt đáng sợ của vương triều.
Đến thế kỷ XVI, Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục càng làm rõ hơn thái độ kỳ thị của nhà nho với nữ sắc. Kiểu nhân vật phụ nữ có dung nhan xinh đẹp, hấp dẫn đàn ông nhưng lại là những yêu quái, hồ ly đội lốt người được tác giả xây dựng như là biểu trưng cho quan niệm đương thời: phụ nữ chứa chất sự mê hoặc, là nguồn gốc của tội lỗi, gây nên oan nghiệt, sai trái, lụn bại cho những đấng nam nhi (nàng Liễu, nàng Đào (Truyện kỳ ngộ ở Trại Tây), Giáng Hương (Từ Thức gặp tiên), Thị Nghi (Truyện yêu quái ở Xương Giang), Nhị Khanh (Truyện cây gạo). Bên cạnh đó, Truyền kỳ mạn lục còn có kiểu nhân vật phụ nữ chính diện, điển hình cho những phẩm chất, tiết hạnh truyền thống: công dung ngôn hạnh, xứng đáng là bậc liệt nữ. Đó là Nhị Khanh (Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), Lệ nương (Truyện Lệ nương), Vũ Thị Thiết (Truyện người con gái Nam Xương), những người chung thuỷ, luôn chăm lo hiếu nghĩa, khao khát cuộc sống bình thường.