mở đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam, kỷ nguyên phục hưng dân tộc. Hai triều đại Đinh - Lê tồn tại trong một thời gian ngắn, song nó có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng trong việc đặt nền móng thống nhất và củng cố nền độc lập của nhà nước Đại Cô Việt. Trên nền tảng đó, hai triều đại Lý - Trần mới có thê hoàn thành trọn vẹn công việc phục hưng đất nước. Cũng nhờ thé mà tư tưởng chính trị Việt Nam có bước phát triển nhanh trong hai triều đại Lý - Trần.
Năm 1010, Nhà Lý dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, khẳng định sự lớn mạnh và nền độc lập của nhà nước Đại Việt ngay trong hoàn cảnh nhà Tống luôn có ý đồ xâm lược nước ta. Nhà Lý rất chú ý tới việc cai trị, tổ chức bộ máy nhà nước hoàn chỉnh hơn nhiều so với nhà Đinh, nhà Lê. Các chức Tam Công và các bộ đã được ấn định, giup vua cai tri có né nép. Nam 1042, nhà Ly ban hành “Hình thư”, bộ luật đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.
Nhà 14 nước thực hiện chính sách trọng nông, đây mạnh công việc xây dựng hệ thong đê điều, bao vệ trâu bò, định ra các quy định đầu tiên để hạn chế sự bóc lột thái quá, phát triển các nghé thủ công, đúc tiền, day mạnh giao lưu giữa các địa phương trong nước. Nhà nước cũng bắt đầu thực hiện việc quản lý đời sông xã hội bằng luật pháp, trừng trị thang tay các hoạt động tội phạm nhằm tạo dựng một xã hội thái bình thịnh trị, phát triển và đề cao đạo Phật, xây dựng chúa chiền với ý đồ làm cho lòng dân được thuần hậu, làm việc thiện. góp phần tạo nên cảnh thái bình. Có thể nói, triều Lý là thời kỳ văn hóa chính trị Việt Nam đạt được những thành tựu có tính chất căn bản, có nên cai trị tiến bộ, phù hợp với thực tiễn đất nước, tạo điều kiện cho quá trình phục hưng dân tộc bước những bước vững vàng, đồng thời bảo vệ thăng lợi nền độc lập của Tổ quốc.
Kinh nghiệm lịch sử của thời kỳ Bắc thuộc và gần một thế kỷ thiết lập lại cơ sở cho quốc gia độc lập làm cho triều Lý nhận thức rất rõ vai trò của dân trong đời sống chính trị. Các vua nhà Lý đều dựa vào ý Trời, lòng dân dé đề ra và thực thi các biện pháp cai trị. Trong Chiếu dời đô, Thái tô cũng luôn nhắc đến dân “Trên vâng mệnh Trời, dưới theo ý dân ”, phê bình nhà Đình, Lê không chịu dời đô, dé cho “tram họ phải hao tổn”. Theo ông, ngay cả việc chọn Thăng Long làm kinh đô, cũng không ngoài việc giúp dân có được nơi thuận tiện trăm bề: “Ở vào nơi trung tâm của trời đất, dia thé rộng mà bang, dat dai cao mà thoáng.
Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Việc quan tâm đến ý dân được nhà vua và các quan lại thân cận nhắc đi nhac lại nhiều lần, và biến thành các chính sách, việc làm cụ thể. Một trong những biểu hiện của việc luôn quan tâm đến dân đó là nhà nước rất chú trọng đến việc bảo vệ sức sản xuất. Lý Thánh Tông hạ chiếu khuyến nông năm 1065.
Hay như việc các vua nhà Lý thực hiện công việc cày ruộng tịch điên hoặc tự đi xem gặt ở một sô nơi đê khuyên 15 khích sản xuất nông nghiệp. Nhà Lý đã có luật lệ bảo vệ trâu bò. Theo đó, những kẻ trộm trâu hay giết trâu sẽ bị xử tội nặng. Nhà Lý cũng rất quan tâm đến vấn đề trị thủy.
Nhiều công trình thủy lợi đã được thực hiện trong thời kỳ này. Tuy những công trình này còn nhiều hạn chế và mang tính vùng - miễn, nhưng nó cũng đã khang định được sự quan tâm của triều đình đến đời sống của nhân dân. Vua có nhân là ông vua hiếu sinh, không hiếu sát, suy bụng mình ra bụng dân, luôn lo lắng, chia xẻ với những nỗi khổ của dân. Lý Thánh Tông đem lòng thương con mình ví với lòng dân thương con, đòi phải khoan giảm hình phạt, khi xét nghĩ tới tù nhân chịu lạnh, sai cấp chăn chiếu và xét kỹ án đề dân khỏi chịu oan.
Tư tưởng thân dân thời nhà Lý còn được biểu hiện rõ nét thông qua lời khang định của Lý Thường Kiệt : “Troi sinh ra dân chúng, vua hiển tất có hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân”. Ong được đề cao trong triều va trong dân vì ông “nhân từ và yêu mến mọi người, biết dân lấy sự no ấm làm dau, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không dé lỡ thời vụ. Nuôi dưỡng cả đến người già ở nơi thôn dã.
Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước, cái thuật trị dân, sự tốt đẹp đêu ở đây cả”. Vua Lý Nhân Tông là một trong những vị vua đã làm được rất nhiều việc lớn trong thời kỳ cai trị của mình. Ông là người đầu tiên mở khoa thi Nho học năm Ất Mão, lập ra Quốc Tử Giám năm Bính Thìn và đặc biệt đã chỉ huy quân dân cả nước đập tan cuộc xâm lăng của nhà Tống năm Dinh Ty. Với công lao to lớn như vậy nhưng trước khi lâm chung, lời di chiếu của ông vẫn chứa chan lòng yêu nước, thương dân: “.
Thé nhưng người đời chang ai không thích sống mà é ghét chết. Chôn cất hậu làm mắt cơ nghiệp, để tang lâu làm ton tính mệnh, tram không cho thé là phải. Tram ít đức, không lấy gi làm cho trăm ho được yên, đến khi chết di lại khiến cho thứ dân mặc áo xô gai, sớm tối khóc lóc, 16 giảm ăn uống, bỏ cúng tế. làm cho lỗi ta thêm nặng.
Lý Cao Tông thì tự phê bình: “7zẩm còn bé mà phải gánh vác việc lớn, ở tận nơi cửu trùng không biết cảnh khó khăn của dân chúng, nghe lời bọn tiểu nhân mà gây nên oán giận của kẻ dưới. Dân đã oán than thi Tìram còn dựa vào ai? Nay Tiram sẽ sửa lỗi cùng dân đổi moi” [13]. Tư tưởng thân dân từ nhà Lý đến nhà Trần đã phát triển từ trình độ kinh nghiệm đến trình độ khái quát lý luận, thắm sâu vào cả những ứng xử rất nhỏ của những nhà cai trị tối cao. Trần Nhân Tông lúc hòa bình còn nhắc lại: “Lúc nước nhà có hoạn nạn thì chỉ có bọn ấy (những người dân thường, thậm chí là nô ty) di theo mà thôi”.
Trần Minh Tông coi dân là đồng bào của mình: “Hết thay sinh dân đều là đồng bào của ta Nỡ lòng nào dé cho bốn bé khốn cùng”[13] Đặc biệt, chiến thắng quân Nguyên - Mông đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt và giá trị thực tiễn cao của tư tưởng nhà Trần. Trong hào khí Đông A, ý chí quyết tâm giữ vững độc lập được thé hiện rộng khắp cả nước, một minh chứng cho nguyên lý về sức mạnh tỉnh thần của tư tưởng chính trị khi nó trở thành phương thức hoạt động của cộng đồng hàng triệu con người. Quân lính tự nguyện chích lên cánh tay hai chữ “sát thát”, người dân tự nguyện đốt nhà, đốt làng, đốt ca thủ đô dé giặc nhanh that bại, tướng quân bị giặc bắt thà chết không chịu đầu hàng, nhân dân che chở quân mai phục của triều đình, rồi cùng xông ra giết giặc trên sông Bạch Đăng. Các vua nhà Trần thân làm tướng, xông pha trận mạc.
Và cũng chính chiến thắng ba lần trước đội quân xâm lược hùng mạnh nhất, quân Nguyên Mông đã chứng tỏ sức mạnh của dân tộc ta dưới thời Trần. Nhà Trần là một minh chứng hùng hồn về tác dụng lịch sử lớn lao của một nên chính trị đúng đắn, phù hợp với thực tiễn xã hội và được nhân dân ủng 17 hộ. Sự hy sinh to lớn của dân trong ba cuộc chiến tranh vệ quốc đủ làm cho nhà Trần nhận ra vai trò quyết định của nhân dân đối với sự tồn tại của Vương triều. Nhà Trần là triều đại duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam đã tô chức một hội nghị đại biểu toàn dân, hội nghị Diên Hong, dé hỏi ý kiến dân về một quyết sách chính trị có tính chất sống còn đối với vận mệnh quốc gia: Đánh hay hòa.
Bởi vì nhà Trần hiểu răng, nếu như có được sự đoàn kết trong nội bộ triều đình, đoàn kết giữa chỉ huy và binh lính trong quân đội, đoàn kết toàn dân thì không có gì là không làm được. Tư tưởng này được biểu hiện qua những lời dụ của vua: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức”, “Trên đưới đông lòng, lòng dan không chia”. Trần Quốc Tuan đã từng nói: “Chim hong hộc muốn bay cao tat phải nhờ ở sáu trụ xương cánh. Nếu không có sdu trụ xương cánh ấy thì cũng chi như chim thường mà thôi ”.
Đây là lời nhận xét đầy ý nghĩa sau sự kiện Yét Kiêu dù gặp khó khăn nhưng vẫn không rời vị trí khi chưa thấy vị chủ tướng của mình. Dé có được lòng trung thành của những người trợ giúp, han vị chủ tướng Trần Hung Dao đã sống và đối xử với họ như thé nào. Tuy nhiên, biểu hiện sâu sắc nhất của tư tưởng thân dân triều Trần phải là tư tưởng “Khoan thư sức dân” của Trần Hưng Đạo. Trong lời khuyến cáo vua Tran lúc lâm chung, ông khang định: “Khoan thư sức dân dé là kế sâu sốc bên rễ, đó là thượng sách để giữ nước”.
Tư tưởng này là một kết luận được rút ra từ suy ngẫm, kiểm nghiệm sâu xa của Trần Hưng Đạo về nguyên nhân sụp đồ của các vương triều, đó là đối lập với lợi ích của dân, bóc lột dân nặng nề, vặt kiệt sức dân vì lợi ích thong trị. Tính khái quát cao cua tu tưởng này ở chỗ nó là kết luận được rút ra không chỉ về mặt lịch sử các Vương triều bị đồ, mà còn cả về mặt lôgíc: Gạt bỏ tất cả các suy diễn trung gian theo lối bắc cầu của truyền thống tư duy phương Bắc, ông đi thắng từ nguyên nhân ban đầu đến kết quả cuối cùng, nhờ vậy mà nó mang tính thuyết phục cao: Có 18 dân thì còn nước, mat dân thì mat nước. Lôgíc giản dị này có tác dung gat bỏ mọi lý lẽ ngụy biện ở khâu trung gian nhằm biện cho những ứng xử chính trị vì các lợi ích cá nhân, cục bộ, xâm hại dân nhưng lý sự quanh co dé biện luận. Không chỉ lúc sông mà sau khi hóa, tâm cao đức rộng của Trân Hưng Đạo như vâng thái dương tỏa sáng mọi ngõ ngách u tôi chôn nhân gian, vượt ra ngoài cõi phàm trân, thoát tục.