đặt vấn đề cần nghiên cứu hiệu quả của hoạt động quản lý. Wilson đề xuất: “Thực thi Hiến pháp khó hơn là xây dựng nó”. Ông nhấn mạnh đến việc quản lý chính phủ và sử dụng sức mạnh trí tuệ để quản lý một cách hiệu quả đất nước trong việc thực thi các chính sách chính trị. Ngay từ giai đoạn này, ở Mỹ đã có quan điểm là khoa học về HCNN nói chung và các nguyên tắc và tiêu chí đánh giá hiệu quả nói riêng có thể và cần phải gắn kết với khoa học quản lý doanh nghiệp tư nhân [82].
Từ sau tác phẩm của Wilson đến nay, trên thế giới bắt đầu từ Hoa Kỳ, đã xuất hiện nhiều tác phẩm nghiên cứu và đánh giá hiệu quả QLNN. Whinte năm 1926, trong cuốn sách Tác giả cuốn “Làm quen với hành chính công” đề xuất một số nguyên tắc của hành chính công như: quản lý đúng đắn và nghiên cứu khoa học, hành chính công có thể trở thành một khoa học độc lập, và nhiệm vụ của hành chính công là chính sách công có hiệu quả kinh tế [75]. Từ những năm 1967, Liên hợp quốc đã hỗ trợ các tổ chức để tổ chức các hội nghị quốc tế nhằm tập hợp các chuyên gia về hoạt động quản lý HCNN trao đổi, chia sẻ thông tin nghiên cứu về lĩnh vực này. Chính vì vậy, đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu khoa học lớn, có giá trị cao về hành chính công nói chung và đánh giá hiệu quả hoạt động QLNN đã được xuất bản.
Đồng thời, một nghiên cứu so sánh về phương pháp đánh giá và thành tựu của các nước trong lĩnh vực này cũng được tiến hành. 10 Trong giai đoạn 1980-1990, các mô hình quản lý công mới tập trung nghiên cứu và xuất hiện thường xuyên hơn. Đầu tiên là dự án nghiên cứu về “quản lý điều hành” nhằm tạo ra sức sống và sự linh hoạt trong quản lý (mục tiêu rõ ràng và khả năng kiểm soát) nhằm đảm bảo “đầu ra”” được thể hiện thông qua các chỉ số hiệu quả hoạt động. Trong giai đoạn này, có các dự án nghiên cứu sau: Kỹ thuật cải tiến năng suất, do Matzer J.
biên tập, ISMA: Washington, 1986 [151]; Sổ tay dành cho người thực hành thực hành để nâng cao hiệu quả trong quản lý khu vực công, của Morley E.A" (Hướng dẫn của Partitioners về cải thiện năng suất khu vực công, Van Nosstrand Reinhold: New York, 1986 [152]; "Đánh giá quản lý công hiệu quả" của Wholey J. Nội dung của những công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu đề cập đến hiệu quả, đánh giá hiệu quả và làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý trong khu vực công. Những kết quả nghiên cứu trên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc cung cấp những luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu sâu hơn về việc đánh giá hiệu quả QLNN trong khu vực công của chính quyền cơ sở và xây dựng hệ thống tiêu chí để đánh giá hiệu quả quản lý của cấp chính quyền này. Năm 2000, Viện Hành chính công Châu Âu (EIPA) đã phát triển Khung đánh giá chung (CAF).
Mô hình CAF cho phép đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức quốc gia thông qua việc tự đánh giá [148]. Khung đánh giá chung (CAF) là một công cụ để Quản lý chất lượng toàn diện (TQM). Nó là một bộ công cụ được thiết lập để giải quyết các vấn đề trong quản lý nguồn nhân lực. Phiên bản do CAF phát hành năm 2000 đã được điều chỉnh ở phiên bản 2002.
và sàng lọc, 2006 và phiên bản 2013 mới nhất. CAF là một công cụ dễ sử dụng, có tính linh hoạt cao để các tổ chức công đánh giá hiệu quả hoạt động của họ, được xây dựng trên sự kết hợp giữa Mô hình quản lý chất lượng chung và Mô hình quản lý chất lượng. Mô hình cải tiến quản lý của Quỹ quản lý chất lượng châu Âu (Quỹ quản lý chất lượng châu Âu - EFQM). Trên cơ sở tính đặc thù của các tổ chức công, Mô hình này được xây dựng và áp dụng cho các tổ chức công.
Mô hình CAF dựa trên hiệu quả hoạt động của tổ chức và đánh giá kết quả của lãnh đạo thông qua hiệu quả hoạt động của nhân viên và công dân/khách hàng bằng cách thiết lập và thực hiện các chiến lược, kế hoạch, động viên nhân viên, phát triển mối quan hệ với các đối tác, phân bổ nguồn lực hiệu quả và đảm bảo các hoạt động diễn ra suôn sẻ [148]. 11 Mô hình đánh giá này cũng là một trong những mô hình được áp dụng thành công ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, các nước Viễn Đông, Dominica, Brazil. Nhiều nước trên thế giới đã ban hành các văn bản quy định việc đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền nhà nước. Cụ thể, ở một số nước phương Tây, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của chính phủ bắt đầu được thực hiện từ những năm 1970.
Năm 1973, chính phủ Hoa Kỳ công bố “Kế hoạch xác định tính hiệu quả của các hoạt động của chính phủ”. Để cung cấp đánh giá dựa trên bằng chứng và thường xuyên về hiệu quả của các tổ chức công [37]. Bằng cách này, họ đã đề xuất hơn 3.000 tiêu chuẩn để các cơ quan thống kê sử dụng trong thống kê và phân tích hiệu quả công việc của các cơ quan chính phủ. Năm 1993, chính phủ Hoa Kỳ đưa ra Đạo luật Hiệu quả và Kết quả của Chính phủ, trong đó yêu cầu các cơ quan chính phủ liên bang xây dựng kế hoạch chiến lược 5 năm cho các nhiệm vụ và mục tiêu dài hạn của mình, xây dựng kế hoạch hàng năm, quản lý hiệu quả việc thực hiện các mục tiêu chiến lược và tiến hành thường xuyên các hoạt động đánh giá.
Năng suất của tổ chức của bạn. và báo cáo trước Quốc hội và công chúng. Từ đó, việc áp dụng đánh giá hiệu quả của tổ chức chính phủ trở nên thường xuyên hơn [17]. Ở châu Âu, từ những năm 1980, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính phủ đã nhận được sự quan tâm lớn.
Đặc biệt ở Anh, để khắc phục tình trạng quan liêu và nâng cao hiệu quả hành chính, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của chính phủ đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng. Năm 1979, chính phủ Anh thực hiện Kế hoạch Rana. Đây là chương trình đánh giá cơ quan Chính phủ toàn diện và hiệu quả, làm cơ sở triển khai các đề án cải cách hành chính. Kho bạc HM đã tăng cường vai trò của mình trong việc giám sát và hướng dẫn quá trình xem xét.
Cuốn sách “Các ý kiến hướng dẫn kỹ thuật về đánh giá hiệu quả hoạt động và hiệu quả của chính quyền trung ương” (1989) đưa ra hướng dẫn về xây dựng và cải tiến các cơ chế đánh giá mang tính kỹ thuật và chuyên môn. Từ đó, đánh giá của Anh về hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính phủ dần trở nên khoa học và bài bản hơn. Các nước phương Tây khác cũng đã tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính phủ công. Chính phủ Hà Lan đã ban hành luật quản lý đô thị mới yêu cầu đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền địa 12 phương.
Ở Úc, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính phủ công được thực hiện thông qua các chương trình cải cách cụ thể như Chương trình Cải thiện Quản lý Tài chính, Kế hoạch Quản lý và Chương trình Cải cách Ngân hàng. Việc xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá và kế hoạch đánh giá hiệu quả hoạt động đã trở thành một phần trong kế hoạch công tác của các cơ quan Chính phủ và được chính thức đưa vào kê khai, công bố ngân sách tài chính hàng năm của cơ quan. Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức công cũng đã được thực hiện rộng rãi ở Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và New Zealand [114]. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có xu hướng không sử dụng khái niệm quản lý nhà nước như ở Việt Nam.
Bàn về hiệu quả đề cập đến hiệu quả hoạt động của thể chế nhà nước và hiệu quả hoạt động của chính phủ. Vì vậy, khi nói đến hiệu quả quản lý nhà nước là nói đến hiệu quả hoạt động của nhà nước, trong trường hợp cụ thể là nói đến hiệu quả hoạt động của một bộ, ngành nào đó của UBND. Các công trình nghiên cứu trong nước Về nghiên cứu đánh giá hiệu quả quản lý quốc gia, cho đến nay đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý tiến hành nghiên cứu và công bố nhiều công trình khoa học. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như sau: “Đo lường, đánh giá hiệu quả quản lý hành chính quốc gia, thành tựu thế giới và ứng dụng ở Việt Nam” (sách chuyên khảo) do Học viện Hành chính Quốc gia, Nhà xuất bản Lao động (2012) xuất bản [35].
Cuốn sách đã đi vào nghiên cứu lý thuyết đánh giá, đo lường hiệu quả quản lý HCNN của các nước trên thế giới, cụ thể đi vào nghiên cứu lý thuyết hiệu quả quản lý HCNN - một bộ phận của lý thuyết QLHC công; trong nội dung này các tác giả làm rõ các khái niệm hành chính công; Hiệu quả; hiệu quả quản lý HCNN; hiệu quả kinh tế; hiệu quả kinh tế xã hội. Phân loại hiệu quả quản lý HCNN; tiếp đến giới thiệu về hiệu quả quản lý HCNN của một số tác giả trên thế giới thông qua một số giai đoạn từ 1900 cho đến 1990. Việc nghiên cứu các góc độ tiếp cận về đánh giá hiệu quả quản lý HCNN cũng được các tác giả nghiên cứu khá đầy đủ từ góc độ kinh tế; góc độ chính trị - xã hội; từ góc độ khoa học hành chính; từ góc độ tổ chức bộ máy; từ góc độ cơ học truyền thống; từ góc độ lý thuyết các nguồn lực con người; từ góc độ lý thuyết định 13 lượng; từ góc độ phân tích tình huống; từ lý thuyết quản lý công mới.Mô hình và phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý nguồn nhân lực là một trong những chủ đề được tác giả quan tâm nghiên cứu chuyên sâu. Nội dung tương đối toàn diện, từ đánh giá kết quả trực tiếp và hiệu quả công việc đến (2) đánh giá “kết quả chi phí-cuối cùng” (3) đánh giá “chi phí-kết quả trực tiếp-kết quả cuối cùng” (4) Đánh giá có hệ thống và toàn diện về chi phí-quy trình-cuối cùng kết quả và đánh giá “tài nguyên-quy trình-kết quả”.