Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CUA DAI BIEU QUOC HOI, DOAN DAI BIEU QUOC HOI 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò hoạt động giám sát của dai biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội 1. Khái niệm hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội “Giám sát” nguyên gốc là một từ Hán - Việt, có nghĩa là: “xem xét và bàn bạc”. Theo từ điển tiếng Việt, thì “giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”'. Nhìn từ góc độ thực thi quyền lực nhà nước thì giám sát được hiểu là sự theo dõi, kiểm tra đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước của các cá nhân, tổ chức có thâm quyên theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thé hiểu khái niệm “giam sát” được định nghĩa như sau: Giám sát là việc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tô chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Giám sát là một trong những chức năng cơ bản của quốc hội, nghị viện một số nước cũng như của Quốc hội Việt Nam. Đó là việc Quốc hội sử dụng quyên han, các phương tiện và công cụ của mình dé theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tô chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thắm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thâm quyền xử lý. Về bản chất, giám sát của Quốc hội là hoạt động theo dõi, thu thập thông tin về việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân hữu quan và đồng thời xem xét, đánh giá thông tin thu thập được.
Việc xem xét, đánh giá này là cơ sở dé Quốc hội có thé biểu dương hoặc phê phán các 'Hoang Phê (chủ biên) (2003), Từ dién tiếng Việt, NXB Da Nẵng. chủ thê có liên quan và trong những trường hợp nhất định, bày tỏ sự tín nhiệm của mình đối với các chủ thê đó. Trong tô chức bộ máy và hoạt động của Nhà nước ta, giám sát nhà nước được hiểu là hoạt động của cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) thực hiện việc theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của những cơ quan, cá nhân do cơ quan dân cử bau, thành lập hoặc phê chuẩn hoặc bất cử cơ quan, tô chức, cá nhân nào khi xét thấy cần thiết nhăm bảo đảm các cơ quan này khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải tuân thủ nghiêm các quy định của Hién pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Mục tiêu giám sát của Quốc hội là để bảo đảm hoạt động đúng đắn, tính tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân trong việc tuân theo pháp luật, thỏa mãn được những nguyên tắc, thủ tục do Quốc hội đề ra và lợi ích của nhân dân được đảm bảo.
Đối với Quốc hội, giám sát là một chức năng quan trọng bên cạnh các chức năng lập pháp và quyết định các vẫn đề quan trọng của đất nước. Khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định: “Giám sát là việc Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biéu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động cua cơ quan, tô chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”. Theo quy định của Hiến pháp 2013 thì: Quốc hội giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Quốc hội ở đây được hiểu bao hàm tất cả các thiết chế bộ máy của Quốc hội như Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.
Nếu không có hoạt động giám sát của UBTVQH, HDDT, các ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH thi không thê có cơ sở dé tiễn hành giám sát tối cao tại các kỳ họp va ngược lai. Tuy nhiên, Quốc hội hoạt động theo nguyên tắc làm việc tập thé và quyết định theo đa số nên các quyết định giám sát kỳ họp và hậu quả pháp lý của nó mới được xem là giám sát tối cao theo phương diện của pháp luật thực định. Do đó, Quốc hội được quy định trong Hiến pháp có lúc là một thiết chế hoàn chỉnh, nhưng cũng có lúc là một chủ thé độc lập, thé hiện rõ nhất là giám sát tối cao tại kỳ họp qua việc xem xét báo cáo, giám sát chuyên đề hoặc chất vấn, hoặc bỏ phiếu tín nhiệm. Trong sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội đòi hỏi tính minh bạch, dân chủ ngày càng cao.
Hoạt động giảm sát của các cơ quan dân cử nói chung, của đại biéu Quốc hội, đoàn đại biéu Quốc hội nói riêng không chỉ nhăm mục dich phát hiện ra van dé, đưa ra các kiến nghị mà đòi hỏi đối tượng chịu sự giám sát phải thực thi các kiến nghị đó một cách nghiêm túc, những sai phạm phải được xử lý, những chính sách chưa hoàn thiện phải được sửa đôi, bỗ sung, hủy bỏ, đáp ứng yêu cầu thực tế. Chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát có tác động quan trọng không chỉ liên quan đến chất lượng của hoạt động lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước mà còn liên quan đến toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Hoạt động giám sát của Quốc hội không chỉ nhăm mục đích bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, mà còn dé cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, góp phan đưa pháp luật vào cuộc sông và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Hoạt động giám sát của ĐBQH là hoạt động thực hiện một trong ba chức năng cơ bản của Quốc hội, đó là chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Với vai trò là thành viên của Quốc hội, ĐBQH giám sát thông qua các hoạt động sau: - Chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiêm sát nhân dân tôi cao; - Giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; - Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. ĐBQH tự mình giám sát hoặc tham gia hoạt động giám sát cùng Đoàn ĐBQH, tham gia hoạt động giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội tại địa phương khi có yêu cầu. Trong thực hiện hoạt động giám sát ĐBQH phải đảm bảo nguyên tac công khai, khách quan, đúng thâm quyên, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; không làm can trở hoạt động bình thường của cá nhân, tổ chức bi giám sát. ĐBQH chịu trách nhiệm về quyết định, yêu cầu, kiến nghị, giám sát của mình và báo cáo cử tri địa phương về việc thực hiện nhiệm vụ giám sát.
Hàng năm, ĐBQH đăng ký chương trình thực hiện hoạt động giám sát ở địa phương với Đoàn ĐBQH ở địa phương để đưa vào chương trình giám sát. Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tô chức thực hiện các hoạt động giám sát và tổ chức dé ĐBQH trong đoàn thực hiện chương trình giám sát của cá nhân. Kết quả thực hiện chương trình giám sát của cá nhân ĐBQH và Đoàn ĐBQH được Đoàn báo cáo định kỳ hăng năm tới Ủy ban thường vụ Quốc hội. Căn cứ vào quy định của Hiến pháp.
Luật Tổ chức Quốc hội và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân thì hoạt động giám sát của ĐBQH và Đoàn ĐBQH là việc ĐBQH thực hiện chất vấn tại kỳ họp, tự mình thực hiện giám sát hoặc tham gia đoàn giám sát của Đoàn ĐBQH giám sát việc thi hành pháp luật của địa phương, giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, luật, nghị quyết của QH, Pháp lệnh, Nghị quyết của UBTVQH được thực hiện nghiêm chỉnh, thong nhất bảo đảm quyên và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân. Đặc điểm hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội 1.1 Về chủ thể giám sát Tại Điều 2 và Điều 4 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 thì chủ thể giám sát là Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội có những thâm quyên sau: Doan đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát của Doan và tổ chức dé đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương; tham gia giám sát với Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại địa phương; Đại biểu Quốc hội chất vẫn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát văn bản quy phạm pháp luật, việc thi hành pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại các bộ, ngành, địa phương khi có yêu cầu.2 Về đối tượng giám sát Theo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, đối tượng chịu sự giám sát của ĐBQH và đoàn ĐBQH là cơ quan, tô chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.