mở đầu, nội dung và kết luận. Riêng phần nội dung có 3 chương, cụ thể như sau: 10 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực quản lý của chủ tịch UBND phƣờng. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực quản lý của chủ tịch UBND phƣờng ở Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý của chủ tịch UBND phƣờng ở Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.
11 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA CHỦ TỊCH UBND PHƢỜNG 1. Chủ tịch UBND phƣờng 1. Khái niệm - Cán bộ và cán bộ phƣờng. Theo cuốn từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1998 thì cán bộ có hai nghĩa như sau: Một là, Cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước.
Với nghĩa này cán bộ không chỉ bao gồm những người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước mà trong cả hệ thống chính trị. Bộ phận cán bộ nghiệp vụ chuyên môn trên đây thường được hình thành thông qua con đường đào tạo từ nhà trường, đây là bộ phận cán bộ đông đảo và ổn định nhất. Hai là, Cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ. Với nghĩa này, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, cũng cần nhấn mạnh của cả hệ thống chính trị.
Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ phân biệt với người thường, không có chức vụ. Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc đề bạt, bổ nhiệm. Theo quan niệm thông thường thì cán bộ được hiểu là những người thoát ly sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp,…để làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, những người là sĩ quan trong lực lượng quân đội nhân dân và công an nhân dân, những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế. Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 12 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 (gọi là Luật Cán bộ, công chức năm 2008) có quy định như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” và “Cán bộ phường, xã, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội” Tại Khoản 2, Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì cán bộ phường có các chức vụ, chức danh sau: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ.
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND. c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND. d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam. h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Như vậy Chủ tịch UBND phường là một chức danh cán bộ theo quy định của Luật CBCC, mang đầy đủ đặc điểm của cán bộ nói chung 1.
Khái niệm chủ tịch UBND Phƣờng Việt Nam hiện nay chưa có một quy định cụ thể và rõ ràng dành riêng cho chức danh chủ tịch UBND Phường. Chức danh chủ tịch UBND Phường được quan niệm và quy định giống với chủ tịch UBND xã, thị trấn. Thuật ngữ chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn được gọi chung là chủ tịch UBND cấp xã. Theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định chuẩn chức danh cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thì “Chủ tịch UBND cấp xã là cán bộ chuyên trách 13 chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của UBND và hoạt động quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng đã được phân cấp trên địa bàn xã, phường, thị trấn” [3, tr.
Vị trí vai trò, đặc điểm, quyền hạn của chủ tịch UBND Phƣờng 1.Vị trí vai trò Vị trí, vai trò của chủ tịch UBND phường được thể hiện qua nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm được Đảng và Nhà nước phân công chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân về kết quả trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn phường của mình phụ trách theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật và ý chí nguyện vọng của nhân dân. Họ chính là cầu nối gắn kết thiết thực giữa nguyện vọng của Nhân dân với việc thực hiện đường lối, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; trực tiếp giải quyết mọi công việc liên quan đến quyền và lợi ích của nhân dân trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Chính vì vậy, năng lực và hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành của chủ tịch UBND phường có vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự thành - bại của việc tổ chức thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá VIII đã nhấn mạnh: cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng quyết định đến sự thành bại của cách mạng, là nhân tố thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới.
Hệ thống chính trị cơ sở mạnh hay yếu phụ thuộc vào trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Vì vậy, cán bộ, công chức, nhất là chủ tịch UBND phường được xem là “trụ cột” trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành ở cơ sở, là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi sự nghiệp đổi mới của đất nước. Nói đến vai trò của chủ tịch UBND phường nghĩa là nhấn mạnh trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ mà họ phải thực hiện công tác lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội trên cương vị là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở. Do đó, việc xây dựng nền hành chính công và hoàn thiện chế độ công vụ quy định trách nhiệm và quyền hạn của đội ngũ cán bộ, công 14 chức hiện nay, đặc biệt là chủ tịch UBND phường là rất quan trọng.
Bởi vì, Nhà nước Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu hách dịch, cửa quyền. Các quy định nói trên của Hiến pháp đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, công khai minh bạch, đáp ứng trước yêu cầu đổi mới cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, phẩm chất, đạo đức cho từng loại cán bộ, công chức, trong đó có chủ tịch UBND phường. Thực hiện những vấn đề này cũng chính là sự kh ng định vai trò, trách nhiệm của chủ tịch UBND phường trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội, có ý nghĩa quyết định đến đời sống của nhân dân ở địa phương.
Để thực hiện đầy đủ quyền hạn, nghĩa vụ và phát huy vai trò của chủ tịch UBND phường nói trên: - Trước hết, chủ tịch UBND phường phải có đủ năng lực và uy tín, công minh, như vậy mới đại diện cho Nhà nước thực thi quyền lực nhà nước trong đời sống xã hội tại địa phương; triển khai, tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước; - Hai là, phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc, yêu cầu chính đáng của nhân dân; - Ba là, tin dân, tôn trọng và có hình thức, biện pháp cụ thể, thích hợp để phát huy quyền làm chủ và chính kiến, nguyện vọng của nhân dân; - Bốn là, huy động tối ưu các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, vận động nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới. Đặc điểm cơ bản của chủ tịch UBND phƣờng. - Thứ nhất, là cán bộ chuyên trách được bầu cử giữ chức vụ chủ tịch UBND phường. 15 - Thứ hai, chủ tịch UBND phường không phải là người địa phương, thường được nhân dân địa phương trực tiếp hoặc gián tiếp bầu lên thông qua các cuộc bầu cử tại địa phương.
- Thứ ba, chủ tịch UBND phường đảm nhận chức vụ theo nhiệm kỳ. Theo quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) và Luật tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 thì nhiệm kỳ của chủ tịch UBND phường là 5 năm. Nghĩa là sau một nhiệm kỳ 5 năm, người đảm nhận chức vụ chủ tịch UBND phường có thể bị thay đổi. Họ sẽ được tiếp tục đảm nhận chức vụ nhiệm kỳ thứ 2 với 5 năm tiếp theo nếu được bầu lại và tái trúng cử.
Họ có thể bị chuyển công tác khác nếu không được bầu lại và không tái trúng cử. Điều này cho thấy không có tính ổn định về nghề nghiệp đối với cán bộ đảm nhận chức vụ chủ tịch UBND phường. - Thứ tư, chủ tịch UBND phường đảm nhận công việc quản lý trong khu vực chính quyền đô thị ở phường (phân biệt với chủ tịch UBND xã ở khu vực nông thôn). - Thứ năm, chủ tịch UBND phường vừa là đại diện của cư dân đô thị ở phường, vừa là đại diện của Nhà nước tại địa phương.
Chính vì vậy, họ luôn luôn phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân địa phương.