CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát của Hội đồng Nhân dân cấp xã 1. Khái niệm giám sát của Hội đồng Nhân dân cấp xã Để nhận thức đúng bản chất, nội dung cũng như hình thức hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, trước hết cần làm rõ khái niệm giám sát. Trong các công trình nghiên cứu một số tài liệu, thuật ngữ giám sát được hiểu theo nhiều cách, nhiều gốc độ khác nhau.
Chính vì vậy, có nhiều định nghĩa giám sát khác nhau được đưa ra tùy theo phạm vi rộng, hẹp của nội dung nghiên cứu và bối cảnh sử dụng cụ thể [Theo định nghĩa tại Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (Hà Nội, 1988) thì giám sát là: "Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không"]. [Đại từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 1998 do Nguyễn Như Ý chủ biên] cũng định nghĩa giám sát là “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”. Quan niệm khác cho rằng giám sát là sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định. Giám sát là một hình thức hoạt động quan trọng, đồng thời là quyền của cơ quan nhà nước thể hiện ở việc xem xét đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó.
Từ những phân tích trên, giúp cho việc nhận biết giám sát có những đặc điểm như sau: 7 luan an -Về mặt nội dung, giám sát thể hiện qua việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đó đúng hay sai với những điều đã quy định. - Về mặt chủ thể và mục đích, giám sát luôn gắn với một chủ thể và đối tượng nhất định, nhằm mục tiêu nhất định (giám sát ai, ai giám sát và giám sát cái gì?). - Về mặt thể chế, giám sát được tiến hành trên cơ sở những quy định cụ thể. Dưới góc độ chính trị, pháp lý, có thể hiểu giám sát là việc cơ quan quyền lực nhà nước theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật, đảm bảo thực hiện đúng yêu cầu, mục đích, chức năng, nhiệm vụ đặt ra.
Tóm lại những phân tích trên đây, có thể xác định rằng, giám sát của HĐND là việc HĐND các cấp theo dõi, xem xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân công quyền ở địa phương, qua đó xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý nếu có vi phạm. Đặc điểm giám sát của Hội đồng Nhân dân cấp xã Hiện nay, cả nước có 11.112 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 1.403 phường, 624 thị trấn, 9. Theo quy định tại Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc Hội và HĐND 2015 quy định giám sát của HĐND nói chung, bao gồm giám sát của HĐND cấp xã, thể hiện qua các hình thức giám sát tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, giám sát của các Ban của HĐND, giám sát của Tổ đại biểu HĐND và giám sát của các đại biểu HĐND. Pháp luật hiện hành cũng quy định đối tượng giám sát của HĐND cấp xã gồm Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, các tổ chức và cá nhân khác trong thực 8 luan an hiện nghị quyết HĐND cấp mình và các chính sách, pháp luật của cấp trên ở địa phương.
Tuy nhiên, với cơ chế, tổ chức biên chế hiện nay, hầu hết HĐND cấp xã chỉ đủ điều kiện giám sát đối với các tổ chức và cá nhân cùng cấp ở hai kỳ họp thường lệ, còn đối với các tổ chức và cá nhân ngoài phạm vi đó đang hoạt động tại địa phương thì thường không làm được. Nhìn một cách toàn diện, đại biểu HĐND cấp xã hầu hết là kiêm nhiệm, đại biểu chuyên trách chỉ có một người, kinh phí. dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai thưc hiện [Kiện toàn, chuẩn hóa các chức danh cán bộ chủ chốt cấp xã đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới của PGS, TS Nguyễn Thanh Tuấn, ThS Phạm Ngọc Hà - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2015]. Giám sát của HĐND cấp xã cũng mang những đặc điểm của hoạt động giám sát nói chung của các cơ quan dân cử, cụ thể như sau: Thứ nhất, giám sát của HĐND mang tính quyền lực nhà nước Hiến pháp 2013 đã khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc Hội, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” [Điều 3,6, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015]. HĐND vừa là cơ quan quyền lực ở địa phương vừa là bộ phận cấu thành không thể tách rời với quyền lực nhà nước, qua HĐND sự thống nhất giữa quyền lực của nhà nước và quyền lực của Nhân dân được thể hiện rõ nhất. HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên; giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và 9 luan an việc thực hiện Nghị quyết của HĐND ở các địa phương. Do đó, hoạt động giám sát của HĐND có những yếu tố sau: - HĐND xem xét báo cáo của Thường trực HĐND, UBND, các cơ quan chuyên môn của UBND tại kỳ họp và thảo luận, ra Nghị quyết khi xét thấy cần thiết.
- Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên Ủy ban nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn. - Đối với văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và Nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp, khi phát hiện văn bản đó có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật thì HĐND có quyền xem xét đình chỉ hay bãi bỏ văn bản đó. - Khi thực hiện việc giám sát, Đoàn giám sát có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm, xử lý người vi phạm nhằm khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị vi phạm và chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu, kiến nghị qua hoạt động giám sát của mình.
Từ những điểm nêu trên cho thấy quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát của HĐND được thi hành theo luật định với những điểm khác biệt giữa giám sát của HĐND với giám sát của MTTQ, giám sát của Đảng, giám sát của Thanh tra nhân dân. Giám sát của Đảng là thể hiện việc giám sát Điều lệ Đảng, việc thực hiện nghị quyết của chi bộ; Hoạt động giám sát của MTTQ được thể hiện tính nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, qua đó góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. 10 luan an Biểu đồ 1. Hệ thống chính trị của Việt Nam và Hội đồng nhân dân Thứ hai, giám sát của HĐND luôn gắn với một chủ thể nhất định Giám sát luôn luôn gắn với một chủ thể, nội dung cụ thể được tiến hành theo dõi, xem xét, đánh giá theo quy định của pháp luật.
HĐND thực hiện giám độc lập, mang tính quyền lực nhà nước, với những quyền và nghĩa vụ khi thực thi giám sát theo quy định của pháp luật, được xác định với mục đích cụ thể được xây dựng trong kế hoạch hàng năm. 11 luan an Bảng 1. Các hình thức giám sát của HĐND, Thường trực, Ban HĐND HĐND Thường trực HĐND Ban HĐND Xem xét văn bản QPPL Xem xét văn bản QPPL Xem xét văn bản QPPL Giám sát chuyên đề Giám sát chuyên đề Giám sát chuyên đề Xem xét trả lời chất vấn Xem xét trả lời chất vấn Tổ chức giải trình Xem xét báo cáo công Thẩm tra các báo cáo tác Giám sát việc giải Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị kiến nghị Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm Thứ ba, giám sát của HĐND là dân chủ, công khai minh bạch Dân chủ là việc quyền lực thuộc về nhân dân, quyền công dân, quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp và những quy định của pháp luật. Đó là một phương thức quan hệ, phương thức xác lập, tổ chức và sử dụng quyền lực trong phạm vi nhất định.
HĐND tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ với những chương trình giám sát hàng năm của mình theo đề nghị của các thành viên, các Ban trong HĐND, kiến nghị của cử tri ở các địa phương. HĐND phát huy trí tuệ và tính dân chủ qua việc thảo luận và quyết định theo đa số. Hoạt động giám sát của HĐND luôn mang tính dân chủ. Theo đó, HĐND mời đại diện các thành viên, các Ban trong HĐND và đại 12 luan an diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia giám sát….
Qua đó, thể hiện tính công khai, minh bạch trong hoạt động giám sát của HĐND cấp xã tại các địa phương với mục tiêu xây dưng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đồng thời giúp cho hoạt động của cơ quan nhà nước, người dân sẽ dễ dàng biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo luật định, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức trong thực thi công vụ. HĐND cấp xã tiến hành tiếp xúc cử tri, mời các thành phần nhân dân cũng tham dự, thông báo công khai thời gian, địa điểm họp, qua đó để báo cáo với cử tri nội dung chương trình kỳ họp và kết quả kỳ họp, trong đó có cả hoạt động giám sát của HĐND. Giám sát là hoạt động của HĐND cấp xã được thực hiện thường xuyên theo một chương trình kế hoạch, mục đích được xây dựng hàng năm ở các địa phương.