phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 3 chƣơng, 9 tiết. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyệnvà đạo đức công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1. Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Ở Việt Nam, trong mỗi giai đoạn khác nhau, cơ quan có thẩm quyền Nhà nƣớc thƣờng sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ những ngƣời làm việc trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Ngày 20/05/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 76/SL – một trong những văn bản ra đời sớm nhất của Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về công chức. Theo đó chỉ những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền cách mạng tuyển bổ giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan chính phủ mới đƣợc coi là công chức. Từ năm 1991, vấn đề “công chức” trong bộ máy nhà nƣớc đƣợc quy định trong Nghị định số 169/HĐBT của Hội đồng bộ trƣởng về công chức nhà nƣớc. Theo nghị định này, công chức nhà nƣớc là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của Nhà nƣớc ở trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc, đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách nhà nƣớc cấp.
Công chức bao gồm những ngƣời làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở trung ƣơng, ở các tỉnh, huyện và cấp tƣơng đƣơng; những ngƣời làm việc trong các đại sứ quán, lãnh sự quán của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nƣớc ngoài; những ngƣời làm việc trong các trƣờng học, cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình của Nhà nƣớc và nhận lƣơng từ ngân 8 sách; những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ quốc phòng; những ngƣời đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong bộ máy của văn phòng Quốc hội, Hội đồng nhà nƣớc, Hội đồng nhân dân các cấp. Nhƣ vậy, Nghị định số 169/HĐBT quy định phạm vi công chức rộng hơn so với sắc lệnh số 76/SL, bao gồm không chỉ những ngƣời đƣợc tuyển dụng hay bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan chính phủ mà cả ở các cơ quan khác của nhà nƣớc. Việc làm rõ thuật ngữ “cán bộ”; “công chức”; “viên chức” đƣợc coi là vấn đề cơ bản, quan trọng xuất phát từ thực tiễn đổi mới cơ chế quản lý đặt ra hiện nay. Điều này đã đƣợc Luật cán bộ, công chức năm 2008 giải quyết tƣơng đối triệt để và khoa học, phù hợp với lịch sử hình thành đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; phù hợp với thể chế chính trị và thực tiễn quản lý của Việt Nam.
Đây đƣợc coi là một trong các thành công của Luật cán bộ, công chức năm 2008. Trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN, quan niệm về công chức có nhiều thay đổi, thể hiện trong các văn bản pháp luật đƣợc ban hành. Trong Pháp lệnh cán bộ, công chức do Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội ban hành ngày 26/02/1998 thì cán bộ công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách bao gồm những ngƣời do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao giữ một công vụ thƣờng xuyên, đƣợc phân loại theo trình độ đào tạo … đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nƣớc. Năm 2003, khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, Nhà nƣớc đã thực hiện việc phân định biên chế hành chính với biên chế sự nghiệp.
Việc phân định này đã 9 tạo cơ sở để đổi mới cơ chế quản lý đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nƣớc với cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nƣớc. Nhƣng đến thời điểm này, vấn đề làm rõ thuật ngữ “công chức” và thuật ngữ “viên chức” cũng chƣa đƣợc giải quyết. Khắc phục những vƣớng mắc về lý luận và thực tiễn của chế định công vụ, công chức, ngày 13/11/2008, Quốc hội đã ban hành Luật cán bộ, công chức (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010), làm rõ đƣợc những tiêu chí xác định ai là cán bộ, ai là công chức, xác định rõ khái niệm “công chức” và phân biệt rõ với khái niệm “cán bộ”.Đây cũng là căn cứ để xác định rõ phạm vi, đối tƣợng điều chỉnh của Luật và để đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ do Luật viên chức năm 2010 điều chỉnh. Theo Luật cán bộ, công chức, cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Trong số công chức nói trên, công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (bao gồm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh – dƣới đây gọi chung là công chức cấp huyện) là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện (quận) và tƣơng đƣơng bao gồm những ngƣời làm việc trong các bộ phận: phòng nội vụ; phòng tƣ pháp; phòng tài chính – kế hoạch; phòng tài nguyên môi trƣờng; phòng lao động thƣơng binh và xã hội; phòng văn hóa và thông tin; phòng giáo dục và đào tạo; phòng y tế; phòng thanh tra; văn phòng Ủy ban nhân dân. Theo quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền địa phƣơng, vì là đô thị nên trong UBND Quận 9, tp Hồ Chí Minh có thêm phòng kinh tế và phòng quản lý đô thị. 10 Đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện có những đặc điểm sau: - Thứ nhất, họ là những ngƣời trực tiếp triển khai các chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc vào giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời dân cũng nhƣ trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tƣ, nguyện vọng của nhân dân địa phƣơng, là những ngƣời trực tiếp tiếp xúc với công dân trong quá trình giải quyết công việc. Ngoài ra họ có nhiệm vụ giúp các cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng tham mƣu để giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của ủy ban nhân dân cấp huyện.
- Thứ hai, công chức có nhiệm vụ giúp phòng chuyên môn tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch đã đƣợc phê duyệt; tuyên truyền, phổ biến thông tin, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý đƣợc giao; thực hiện và chịu trách nhiệm về việc thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy phép thuộc phạm vi trách nhiệm của phòng theo quy định của pháp luật và theo sự phân công của UBND cấp huyện; thay mặt phòng chuyên môn hƣớng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực quản lý cho cán bộ, công chức xã, phƣờng, thị trấn; thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ theo quy định của phòng chuyên môn. - Thứ ba, công chức các cơ quan chuyên môn là những ngƣời đƣợc đào tạo cơ bản theo từng ngành, nghề, làm việc chịu sự chỉ đạo, điều hành, quản lý trực tiếp của Văn phòng HĐND, Văn phòng UBND cấp huyện, của các phòng chuyên môn. Họ là những ngƣời có trình độ nghiệp vụ cao, sáng tạo trong quá trình thực hiện pháp luật. Yêu cầu này rất quan trọng vì họ không chỉ là ngƣời trực tiếp giải quyết nhiều công việc có liên quan trực tiếp đến tổ chức, cá nhân mà họ còn là những ngƣời truyền đạt các chủ trƣơng, đƣờng 11 lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc đến các cơ quan nhà nƣớc cấp cơ sở và đến nhân dân.
Khái niệm, đặc điểm đạo đức công vụ của công chức cáccơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1. Khái niệm đạo đức công vụ Đạo đức công vụ là một dạng của đạo đức. Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực chung của cán bộ, công chức Việt Nam, nhƣng đối với cán bộ, công chức cấp huyện yêu cầu về chuẩn mực đạo đức là một trong những yêu cầu rất cao vì họ là những ngƣời hàng ngày trong hoạt động tác nghiệp của mình đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến việc giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, một trong những yêu cầu của đội ngũ này là phải có đạo đức nghề nghiệp cao để một mặt tạo nên niềm tin của nhân dân đối với cơ quan nhà nƣớc, mặt khác để khắc phục hiện tƣợng tiêu cực trong quá trình giải quyết công việc.
Các nhà triết học, đạo đức học, thƣờng nhìn nhận đạo đức nhƣ là một hình thái ý thức xã hội, bên cạnh các hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, pháp luật, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học …). Trong quá trình hình thành và phát triển, không có một loại hình “Đạo đức bất biến”. Theo Giáo trình triết học Mác – Lê nin (1999) Nxb Chính trị quốc gia thì: “… đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lƣơng tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng … và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội” [23, tr. Trong từ điển tiếng Việt thuộc viện Ngôn ngữ học, đạo đức đƣợc coi là “Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đƣợc dƣ luận xã hội thừa nhận quy định hành vi, quan hệ của con ngƣời đối với nhau và đối với xã hội”.