MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hoàn cảnh một bộ phận khá lớn đồng bào các dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn đang đối mặt với nghèo đói và điều kiện sinh hoạt hết sức khó khăn thì nhiệm vụ xóa đói nghèo, giải quyết việc làm, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, miền cũng như giữa các dân tộc càng đặt ra một cách cấp thiết. Phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi có ý nghĩa hết sức quan trọng. Theo Quyết định số 135/1998/QĐ – TTG ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa” được thực hiện trên các xã đặc biệt khó khăn trong đó có tỉnh Điện Biên.
Từ năm 1999, tỉnh Điện Biên bắt đầu thực hiện Chương trình 135 góp phần cải thiện đáng kể đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân, Chương trình không chỉ những có ý nghĩa to lớn về kinh tế - xã hội nông dân mà còn có ý nghĩa cả về an ninh quốc phòng và chính trị, xã hội thông qua các hoạt động xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng, nhà ở, hỗ trợ các loại cây trồng, vật nuôi cho người dân. Tủa Thàng là một xã miền núi của huyện Tủa Chùa. Trước năm 2010, xã được hưởng lợi từ Chương trình 135 giai đoạn I của tỉnh Điện Biên, nhưng sau đó đời sống của nhân dân vẫn còn nghèo khó, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, trình độ dân trí thấp và cơ sở hạ tầng còn yếu kém phát triển. Chính vì vậy, Chương trình 135 giai đoạn II tiếp tục được đầu tư cho xã Tủa Thàng từ năm 2011.
Sau những năm thực hiện bộ mặt của xã đã có những đổi thay đáng kể, đời sống của người dân được nâng lên, cơ sở hạ tầng được cải thiện. Để tìm hiểu những tác động của Chương trình 135 giai đoạn II đến sự phát triển Luan van 2 kinh tế xã hội của xã Tủa Thàng em tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu và đánh giá hoạt động của Ban Quản Lý Chương trình 135 giai đoạn II đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội tại xã Tủa Thàng – huyện Tủa Chùa – tỉnh Điện Biên”. Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu và đánh giá hoạt động của Ban quản lý chương trình 135 đối với người dân. Trên cơ sở đó có những giải pháp khắc phục nhằm thực hiện chương trình tốt hơn.
Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu và đánh giá tình hình chung về kinh tế - xã hội tại xã Tủa Thàng diễn ra như thế nào khi thực hiện Chương trình 135 tại xã. - Tìm hiểu việc thực hiện chương trình của Ban quản lý Chương trình 135 tại xã đã có được những gì trong việc thực hiện đó. - Tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện chương trình 135 giai đoạn II tại xã Tủa Thàng. - Đánh giá hiểu quả kinh tế - xã hội của Ban quản lý chương trình 135 đã diễn ra như thế nào trong suốt một quá trình triển khai Chương trình.
- Đề xuất 1 số giải pháp để các chương trình hay hỗ trợ cho người dân được thực tốt hơn và đạt kết quả tốt hơn từ Chương trình đó.Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Giúp sinh viên tiết cận tìm hiểu về các lĩnh vực hoạt động và đang thực hiện của Chương trình 135. - Giúp sinh viện nhận biết được và vận dụng những kiến thức đã học tại trường vào thực tiễn, bổ sung kiến thức cho công tác sau này của sinh viên. - Giúp cho sinh viên biết được tác động của chương trình 135 đến tình Luan van 3 hình kinh tế - xã hội của người dân tại xã Tủa Thàng – huyện Tủa Chùa 1.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Là một cơ sở cho sự lãnh đạo địa phương, Ban quản lý các dự án được thực hiện trong những hoạt động của chương trình 135 cho tốt hơn. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chương trình 135 tại xã Tủa Thàng. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Các hoạt động của Ban Quản lý chương trình 135 giai đoạn II tại xã Tủa Thàng - huyện Tủa Chùa - tỉnh Điện Biên.
Phạm vi, thời gian nghiên cứu 1. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong việc thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II từ năm 2011 đến năm 2017 trên địa bàn xã Tủa Thàng - huyện Tủa Chùa - tỉnh Điện Biên, qua đó đánh giá những tác động của Chương trình 135 giai đoạn II đến tình hình của sự phát triển nông thôn tại địa bàn xã. Thời gian nghiên cứu đề tài Từ tháng 01 năm 2018 đến hết tháng 05 năm 2018. Nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Tủa Thàng.
- Mô tả nội dung thực tập tại cơ sở. - Tìm hiểu và đánh giá hoạt động của Ban quản lý chương trình 135 giai đoạn II trên địa bàn xã Tủa Thàng – Tủa Chùa. - Đề xuất 1 số giải phát nâng cao hiểu quả hoạt động của Ban quản lý chương trình 135. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) có sự tham gia của người dân: phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu tình hình thực tế các hộ trong xã như: phong tục tập quán, mức thu thập, tập quán sản xuất,… Trực tiếp tiếp xúc với người dân, tạo điều kiện để cho họ tự bộc lộ, từ mô tả những điều kiện sản xuất, những khó khăn và mong muốn của họ để thu thập được thông tin cần thiết và tìm ra những thuận lợi khó khăn trong sản xuất, kinh tế buôn bán để từ đó đưa ra định hướng và giải pháp khác phục.
- Phương pháp thống kê: Sử dụng để thu thập thông tin, tổng hợp số liệu, phân tích tài liệu theo mục đích nghiên cứu. - Phương pháp so sánh: Dùng để so sánh tốc độ phát triển trước và sau khi thực hiện Chương trình 135. - Phương pháp phân tích: là công cụ để giúp cộng đồng xác định những thuận lợi và khó khăn bằng cách phân tích những hình ảnh “bên trong” (mặt mạnh, mặt yếu) và những tác động “ bên ngoài” (cơ hội, thách thức) mà nó gây tác động đến tình hình phát triển. Phân tích nhằm mục đích tìm hiểu sau hơn về các chương trình mà đã thực hiện được hay vấn đang thực hiện trên địa bàn.
- Phương pháp xử lí thông tin: là những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, phân tổ, đồng thời được xử lí thông qua chương trình. Việc mà đang xử lý thông tin là cơ sở để chúng ta phân tích được cái gì đó. Luan van 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2.Một số khái niệm * Khái niệm về chương trình 135 Chương trình phát triển kinh tế - xã hội của xã ĐBKK vùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay gọi là chương trình 135) là một trong các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam triển khai từ năm 1998.
Chương trình được biết đến rộng rãi với tên gọi chương trình 135 do quyết định của thủ tướng chỉnh phủ chính phủ việt nam phê duyệt thực hiện, chương trình có số hiểu văn bản là 135/1998/QĐ – TTg và được thực hiện qua các giai đoạn: Giai đoạn I từ năm 1999 – 2010, giai đoạn II từ năm 2011 – 2015 [1] * Khái niệm về nghèo đói - Theo ESCAP (1993): Nghèo là tình trạng của một bộ phận không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người, những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển và phong tục tập quán của từng địa phương. - Mức chuẩn nghèo: Theo quyết định số 170/QĐ – TTg của thủ tướng chính phủ ngày 18/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho gia đình năm 2006 – 2010. Ở nông thôn các hộ gia đình có mức thu nhập trung bình từ 200.000đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000đ/người/tháng (3.000đ/người/năm) trở xuống là hộ nghèo [2] * Khái niệm nông thôn Có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về nông thôn ở dưới góc độ khác nhau. Nhưng khi định nghĩa về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với thành thị.
Luan van 6 Trong Từ điển tiếng Việt, nông thôn được định nghĩa là khu vực tập trung chủ yếu dân cư làm nghề nông. Thành thị được định nghĩa là khu vực dân cư làm các ngành nghề ngoài nông nghiệp [4]. Hai định nghĩa nêu trên mới chỉ nói lên một đặc điểm cơ bản khác nhau giữa nông thôn và thành thị. Thực tế sự khác nhau giữa nông thôn và thành thị không phải chỉ ở đặc điểm nghề nghiệp của dân cư, mà còn khác nhau về mặt tự nhiên kinh tế và xã hội.
Về tự nhiên, nông thôn là vùng đất đai rộng lớn,có nhiều đồi núi, đồi lá thường bao quanh các đô thị. Những vùng đất đai này khác nhau về địa hình, khí hậu, thủy văn,. Về kinh tế, nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp(nông, lâm, ngư nghiệp) Cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn chủ yếu lạc hậu, thấp kém hơn đô thị. Trình độ phát triển cở sở vật chất và kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa,.cũng kém hơn đô thị.
Về xã hội, trình độ học vấn, điều kiện cho giáp dục y tế, đời sống vật chất, tinh thần của nông thôn thấp hơn dân cư thành thị. Tuy nhiên những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn lại thường phong phú hơn thành thị. Từ đó, khái niệm nông thôn là vùng đất đai rộng lớn với một cộng đồng dân cư chủ yếu là làm nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kếm phát triển, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp, có thu nhập mức sống thấp hơn đô thị. Một số vấn đề về phát triển nông thôn 2.
Đặc trưng của vùng nông thôn Với khái niệm nêu trên có thể đưa ra những đặc trưng chủ yếu của vùng nông thôn như sau: Luan van 7 - Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng dồng dân cư bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp. Các hoạt động sản xuất và dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp, cho cộng đồng nông thôn. Mật độ dân cư thấp hơn đô thị.