PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời kỳ nước ta bị thực dân Pháp đô hộ khoảng từ 1858 đến 1945, nhân dân ta phải chịu sự bóc lột hết sức nặng nề. Thực dân Pháp đã biến nước ta thành nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, tiến hành khai thác thuộc địa, bóc lột lao động, đồng hoá dân tộc, thực hiện chính sách ngu dân, tuyên truyền tệ nạn xã hội để làm thoái hoá tính dân tộc và giống nòi Việt Nam. Xã hội Việt Nam bắt đầu có sự thay đổi khi có những tầng lớp mới là công nhân, tư sản, tiểu tư sản.
Với việc bị bóc lột, chèn ép của thực dân Pháp, nhân dân ta đã nhiều lần đứng lên đấu tranh giành lại độc lập nhưng các cuộc đấu tranh đều lẻ tẻ, thiếu tổ chức, không có mục đích, người lãnh đạo rõ ràng nên đều thất bại. Lúc này nước ta rất cần một đường lối đấu tranh đúng đắn với mục tiêu rõ ràng và sự lãnh đạo với các chiến lược sáng suốt mới có thể so sánh được với sức mạnh về lực lượng và vũ khí quân sự áp đảo của quân địch. Để đáp ứng mong muốn này, Nguyễn Ái Quốc đã đi chu du, học hỏi ở nhiều quốc gia trên thế giớ và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành lại chính quyền. Đường lối cách mạng giải phóng dân tộc là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi quá trình hình thành đường lối chiến lược giải phóng dân tộc là quá trình vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX - một xã hội thuộc địa nửa phong kiến.
Dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần túy biến thành một xã hội thuộc địa, dù tính chất phong kiến còn được duy trì một phần nhưng các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đều chuyển động trong quỹ đạo của xã hội thuộc địa. Trong lòng xã hội Việt Nam thời kỳ này đã hình thành nên những mâu thuẫn giai cấp, dân tộc đan xen rất phức tạp Để hình thành đường lối cách mạng đúng đắn nghĩa là phải vận dụng lý luận cách mạng vào điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội thuộc địa Việt Nam để nhận thức đúng mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội Việt Nam, xác định đúng kẻ thù, quyết định nhiệm vụ chiến lược, các chủ trương chính sách để tập hợp lực lượng và phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn Nhờ vào “Cương lĩnh chính trị đầu tiên tháng 2/1930”, “Luận cương lĩnh chính trị tháng 10/1933” và “Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 2/1951” dần hoàn thiện 5 0 0 BTL LỊCH SỬ ĐẢNG NHÓM 17 GVHD:TRẦN THỊ KIM LOAN đường lối cách mạng dẫn dắt cuộc đấu tranh đi đúng hướng và từng bước tiến đến thắng lợi, độc lập cho dân tộc. Bởi lẻ đó mà chúng em chọn đề tài này là để tìm hiểu lý do vì sao mà nhờ các văn kiện trên mà chúng ta mới có cơ hội chiến thắng quân xâm lược và cùng với đó là phân tích cũng như so sánh chi tiết nội dung, ưu, nhược điểm của các văn kiện trên để hiểu rõ tình hình thời cuộc lúc bấy giờ và nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi giữa các văn kiện trên. Làm rõ con đường mà Đảng ta thực hiện để đi lên Chủ nghĩa xã hội, những khó khăn mà cha ông ta đã trải qua và sự sáng suốt của Đảng trong việc giúp đất nước ta có ngày hôm nay.
Nhiệm vụ của đề tài Để hiểu rõ và tìm hiểu sâu vào chủ đề mà nhóm đã chọn. chúng em đặt ra 3 nhiệm vụ cần thiết cho đề tài: Một là, làm rõ hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ dưới ách thống trị của thực dân Pháp trước khi cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ra đời Hai là, làm rõ hoàn cảnh nước ta và chủ trương của Đảng từ 10-1930 đến tháng 5-1941. Đặc điểm dân tộc Việt Nam Ba là, làm rõ chính cương Đảng Lao động Việt Nam và sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân 6 0 0 BTL LỊCH SỬ ĐẢNG NHÓM 17 GVHD:TRẦN THỊ KIM LOAN PHẦN NỘI DUNG I. Bối cảnh lịch sự Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 1.
Bối cảnh lịch sử 1.1 Việt Nam từ nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa: Dân tộc Việt Nam sớm hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước. Với truyền thống đoàn kết và bất khuất, dân tộc ta từng đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược lớn mạnh. Từ đâu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây, trong đó có đế quốc Pháp, đã nhòm ngó, xâm lược nước ta, mở đâu bằng việc khai thông buôn bán và truyền giáo. Nǎm 1858, đế quốc Pháp vũ trang xâm lược nước ta.
Vua quan triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng chúng. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1884, triều đình nhà Nguyên đã ký Hiệp ước Patơnốt, hoàn toàn dâng nước ta cho đế quốc Pháp. Từ đó, Việt Nam trở thành thuộc địa của đế quốc Pháp. Dưới chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai của chúng, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi.
Về chính tri thực dân Pháp thi hành chính sách chuyên. Mọi quyền hành đêu nằm trong tay người Pháp, vua quan nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò bù nhìn. Chúng thi hành chính sách chia để trị. Chúng chia rẽ giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, rồi lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp nhằm xoá tên các nước Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới.
Đánh giá về chính sách này, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết: "Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn "chia để trị" của nó. Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia nǎm sẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng làm nguội được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau. Sau khi đẩy họ chống lại nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại, lập nên một "Liên bang" gọi là Liên bang Đông Dương".
Về kinh tế tư bản Pháp không phát triển công nghiệp ở nước ta, mà chỉ mở mang một số ngành trực tiếp phục vụ cho bộ máy thống trị và khai thác tài nguyên để cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp của nước Pháp. Chính sách độc quyền kinh tế Pháp đã biến Việt Nam thành thị trường của chính quốc, nơi vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân công rẻ mạt. Bên cạnh sự bóc lột nhân công và cướp đoạt tài nguyên, đất đai, bọn thực dân Pháp còn duy trì chế độ phong kiến để 7 0 0 BTL LỊCH SỬ ĐẢNG NHÓM 17 GVHD:TRẦN THỊ KIM LOAN giúp chúng bóc lột địa tô, lợi tức và các hình thức thuế khoá rất nặng nề. Các mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc.
Mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân, với giai cấp phong kiến địa chủ chưa được giải quyết, thì mâu thuần giữa dân tộc ta với bọn đế quốc Pháp thống trị và phong kiến tay sai của chúng lại phát sinh, càng đẩy nhanh quá trình cách mạng của nhân dân ta. Đánh giá về hiện tượng xã hội nói trên, đồng chí Nguyễn ái Quốc viết: "Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi" Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa của tư bản Pháp trùm lên phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời đã làm phân hoá các giai cấp cũ, tạo ra kết cấu giai cấp mới. Giai cấp địa chủ phong kiến bị phân hoá, giai cấp công nhân ra đời: Giai cấp địa chủ phong kiến trong những thế kỷ trước đã từng giữ vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử. Từ khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng đế quốc Pháp thì bản thân giai cấp này cũng bị phân hóa.
Một bộ phận can tâm làm tay sai cho đế quốc Pháp để duy trì quyền lợi của bản thân, một bộ phận không ít tiếp tục truyền thống dân tộc, đề xướng và lãnh đạo các phong trào Vǎn thân, Cần vương chống đế quốc Pháp xâm lược, khôi phục triều đình phong kiến. Một số trở thành những lãnh tụ của phong trào quần chúng nông dân, vừa đấu tranh chống đế quốc Pháp, vừa chống lại triều đình bán nước. Một bộ phận nhỏ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa. Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện từ trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), vừa ra đời đã bị sự chèn ép của tư bản Pháp và phân hoá thành hai bộ phận.
Một số ít ôm chân đế quốc, tham gia vào các cơ quan chính trị và kinh tế của đế quốc Pháp, trở thành lớp tư sản mại bản. Một bộ phận khác tuy có mâu thuẫn nhất định với tư bản Pháp và triều đình phong kiến, nhưng thế lực kinh tế yếu ớt, què quặt, phụ thuộc, khuynh hướng chính trị cải lương. Do vậy, giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam tuy có tinh thần yêu nước, chống phong kiến và đế quốc, nhưng họ không có khả nǎng lãnh đạo cách mạng. Họ chỉ có thể tham gia cuộc đấu tranh ấy trong điều kiện nhất định.
Tầng lớp trí thức và tiểu tư sản là những người vốn được chế độ phong kiến và thực dân đào tạo. Nhưng do truyền thống yêu nước chi phối, họ khao khát độc lập, tự do, dân chủ, nên cũng bị phân hoá. Một số ít cam tâm làm tay sai. Số đồng vẫn giữ được khí tiết dù ở hoàn cảnh nào cũng không nguôi lòng cứu nước.
Khi có điều kiện, những trí thức yêu nước thường đóng vai trò truyền bá những tư tưởng mới và là ngòi pháo của các cuộc đấu tranh chống 8 0 0 BTL LỊCH SỬ ĐẢNG NHÓM 17 GVHD:TRẦN THỊ KIM LOAN thực dân, phong kiến. Giai cấp nông dân khao khát độc lập và ruộng đất, hǎng hái chống đế quốc và phong kiến. Sau phong trào Vǎn thân, Cần vương, nhất là sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên thế (1913), phong trào nông dân bị phân tán. Nông dân là một lực lượng đông đảo, yêu nước, nhưng không thể tự vạch ra đường lối đúng đắn để tự giải phóng và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng.