mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1.Cơ sở lý luận của pháp luật về chứng thực tại UBND cấp xã; Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật về chứng thực tại UBND cấp xã từ thực tiễn huyện Đan Phƣợng, thành phố Hà Nội; Chƣơng 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1.
Một số vấn đề lý luận về chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã 1. Khái niệm và đặc điểm của chứng thực 1. Khái niệm chứng thực Để làm rõ đƣợc khái niệm pháp luật về chứng thực, cần làm rõ khái niệm “chứng thực” thông qua việc xem xét thuật ngữ này dƣới các khía cạnh ngôn ngữ và pháp lý: Về khía cạnh ngôn ngữ học, thuật ngữ “công chứng”, “chứng thực” xuất phát từ thuật ngữ Notariat (tiếng Pháp, Đức,.) hay Notary (tiếng Anh), đều có gốc Latinh là Notarius có nghĩa là ghi chép. Theo Từ điển Tiếng Việt chứng thực đƣợc định nghĩa “Nhận cho để làm bằng là đúng sự thật.
Chứng thực lời khai. Xác nhận là đúng. Thực tiễn đã chứng thực điều đó”[37, tr. Trƣớc đây, các nƣớc chỉ sử dụng thuật ngữ “công chứng”.
Phải đến khi các nhà nƣớc dân chủ phát triển, thuật ngữ “chứng thực” mới đƣợc hình thành và có sự tách bạch tƣơng đối với thuật ngữ “công chứng”. Qua tham khảo một số tài liệu pháp lý nƣớc ngoài có thể thấy, trong khoa học pháp lý một số nƣớc cũng có những khái niệm tƣơng đƣơng với khái niệm “chứng thực” trong tiếng Việt. Khi nghiên cứu về chứng thức tại một số quốc gia nhƣ Nga, Thụy Sỹ, Ba Lan, Đức…, một nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “Các nƣớc đều không có sự tách bạch công chứng, chứng thực rành mạch nhƣ Việt Nam nên đa phần Luật đều có tên chung là Luật Công chứng, chứng thực. Thông thƣờng ngƣời thực hiện công chứng và chứng thực có thể hoán đổi vị trí trong từng trƣờng hợp cụ thể.
Công chứng viên cũng đƣợc Bộ Tƣ pháp bổ nhiệm còn ngƣời đứng đầu xã hoặc nhân viên thƣ ký các xã thực hiện chứng thực. Các việc về chứng thực khá đa dạng, ngoài chứng thực bản sao, bản dịch, 9 chữ ký còn có một số việc khác xác nhận rằng công dân đang sống, một công dân ở một nơi nhất định, xác nhận danh tính của một công dân với ngƣời đƣợc miêu tả trong bức ảnh, ngày xuất trình tài liệu” [19]. Tại Cộng hòa Ba Lan, theo Luật Công chứng ngày 14/02/1991, công chứng thị thực: đƣợc hiểu là một dạng thị thực hành chính có nội dung nhƣ chứng thực của Việt Nam, bao gồm: chữ ký, bản sao, bản trích sao từ bản gốc, ngày xuất trình một tài liệu, một ngƣời còn sống, nơi ở của một ngƣời. Khi thị thực bản sao công chứng viên phải đối chiếu với bản gốc.
nếu bản gốc có những chi tiết đặc biệt (chữ bị gạch xóa, ghi nhớ bên lề, bị khuyết), thì công chứng viên phải ghi rõ tình huống đó. Ở Canada, tất cả các loại giấy tờ nhƣ giấy khai sinh, kết hôn hoặc tử vong, các tài liệu đƣợc phát hành bởi tổ chức giáo dục, y tế… có thể đƣợc chứng thực, trừ các tài liệu do tổ chức tôn giáo phát hành. Chẳng hạn, đối với tài liệu trong lĩnh vực giáo dục, chỉ chứng thực các văn bằng, bảng điểm của tổ chức giáo dục Canada đã đƣợc Bộ Giáo dục công nhận. Văn bằng, bảng điểm do một trƣờng đại học hoặc cao đẳng Canada phải đƣợc ký và đóng dấu của Văn phòng Đăng ký của tổ chức có liên quan.
Bảng điểm từ một trƣờng tiểu học hoặc trung học Canada phải có chữ ký của Giám đốc hoặc Phó Giám đốc của trƣờng. Theo quy định, trên các tài liệu Canada chỉ xác thực chữ ký chứ không xem xét, phê duyệt nội dung của tài liệu. Canada cũng cho phép chứng thực bản sao bản chính (tài liệu ban đầu, tài liệu gốc) miễn là phải có xác nhận sao y bản chính có chữ ký và đóng dấu của cơ quan chứng thực. Bản sao các văn bản không xác nhận, ký tên và đóng dấu chứng thực sẽ không đƣợc trả lại cho ngƣời yêu cầu.
Nhƣ vậy, các văn bản pháp luật nƣớc ngoài cũng chỉ đƣa ra thuật ngữ “chứng thực” gắn với những việc làm, hành động cụ thể mà không đƣa ra khái niệm về “chứng thực”. Tại Việt Nam, thuật ngữ chứng thực xuất hiện lần đầu tiên trong Thông tƣ số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 hƣớng dẫn thực hiện các việc công chứng 10 cụ thể của Bộ Tƣ pháp và cho đến năm 2000, với việc ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ – CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực (sau đây gọi tắt là Nghị định số 75/2000 NĐ - CP) thì mới có sự phân biệt giữa 2 thuật ngữ “công chứng” và “chứng thực” [11]. Cụ thể nhƣ sau: Trong Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ, Hồ Chủ tịch không dùng thuật ngữ “chứng thực” mà sử dụng thuật ngữ “thị thực”: Các Ủy ban có quyền thị thực tất cả các giấy má trong địa phƣơng mình, bất kỳ ngƣời đƣơng sự làm giấy má ấy thuộc về quốc tịch nào. Tuy nhiên, Ủy ban thị thực phải là Ủy ban ở trú quán một bên đƣơng sự lập ƣớc và về việc bất động sản phải là Ủy ban ở nơi sở tại bất động sản [9].
Thông tƣ số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 hƣớng dẫn thực hiện các việc công chứng cụ thể của Bộ Tƣ pháp là văn bản đầu tiên xuất hiện thuật ngữ “chứng thực”: Tất cả các đơn từ, giấy tờ khác có nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội chủ nghĩa, thì có thể đƣợc công chứng viên chứng thực chữ ký của ngƣời lập ra chúng [3]. Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 quy định về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nƣớc không xuất hiện cụm từ ”chứng thực” nhƣng đến Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1999 thuật ngữ này lại xuất hiện thông qua việc giao cho UBND thực hiện việc chứng thực: Các hợp đồng và giấy tờ đã đƣợc Công chứng Nhà nƣớc chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trƣờng hợp bị Toà án Nhân dân tuyên bố là vô hiệu. Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng thực các việc do pháp luật quy định và chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, trừ các việc đƣợc quy định tại khoản 1, 2 Điều 18 [12]. Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là văn bản đầu tiên đƣa ra khái niệm “chứng thực” là gì: “chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định.
11 Nhƣ vậy theo quy định của Nghị định số 75/2000/ NĐ-CP, hoạt động chứng thực gồm: (i) Xác nhận sao y giấy tờ; (ii) Xác nhận hợp đồng, giao dịch; (iii) Xác nhận chữ ký. Tuy nhiên, đến thời thời điểm năm 2006 với sự ra đời của Luật công chứng 2006 điều chỉnh hoạt động công chứng và Nghị định số 79/NĐ–CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thức bản sao từ bản chính (sau đây gọi tắt là Nghị định số 79/NĐ-CP) điều chỉnh hoạt động chứng thực sao y bản chính, cấp bản sao từ sổ gốc và chứng thực chữ ký. Nhƣ vậy hoạt động công chứng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật công chứng 2006, hoạt động chứng thực thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 79/NĐ-CP. Tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP không đƣa ra khái niệm “chứng thực” mà giải thích cụ thể các hoạt động chứng thực.
Tuy nhiên chúng ta có thể hiểu chung nhất về hoạt động chứng thực theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan hành chính nhà nƣớc xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản đƣợc chứng thực so với bản chính; xác nhận tính chính xác, tính có thực của chữ ký đƣợc chứng thực là chữ ký của một cá nhân cụ thể, là cơ sở phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của các cá nhân, tổ chức trong xã hội đƣợc dễ dàng, thuận tiện. Nếu chỉ căn cứ vào Nghị định số 79/2007/NĐ – CP thì khái niệm chứng thực đƣợc thu hẹp không gồm hoạt động xác nhận hợp đồng, giao dịch bởi theo phạm vi điều chỉnh của Nghị định 75/200/NĐ – CP mà chỉ điều chỉnh hoạt động chứng thực gồm 3 vấn đề: Cấp bản sao từ sổ gốc; Chứng thực bản sao từ bản chính; Chứng thực chữ ký cá nhân (bao gồm chứng thực chữ ký của ngƣời dịch trong các bản dịch từ tiếng nƣớc ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nƣớc ngoài và chứng thực chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho các giao dịch dân sự). Luật công chứng và Nghị định số 79 đã phân biệt rõ hai loại hoạt động công chứng và chứng thực, theo đó công chứng là việc công chứng viên chứng 12 nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; còn Phòng Tƣ pháp cấp huyện, UBND xã có thẩm quyền chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, chứng thực chữ ký. Đến Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cũng không đƣa ra khái niệm “chứng thực” mà giải thích cụ thể các hoạt động chứng thực về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.
Theo đó, "Chứng thực bản sao từ bản chính” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính; "Chứng thực chữ ký" là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của ngƣời yêu cầu chứng thực; “Chứng thực hợp đồng, giao dịch” là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch” [13].