MỞ ĐẦU: Ngày nay thế giới đang đối diện với tình trạng biến đổi khí hậu. Trái đất đang nóng dần lên làm băng ở hai cực tan chảy dẫn đến nƣớc biển dâng cao và thiên tai có xu hƣớng xuất hiện ngày càng nhiều hơn (Cavallo và Noy, 2011). Thiên tai lớn và đột ngột thƣờng gây ra những hậu quả nghiêm trọng so với những thiên tai có tính chất chu kỳ (Barro, 2009). Một số thiên tai lớn điển hình là động đất kèm theo sóng thần xảy ra ở Ấn Độ Dƣơng vào năm 2004, bão Katrina xảy ra ở Hoa Kỳ vào năm 2005, động đất ở Haiti năm 2010 và bão Hải Yến vào năm 2013 tại Philippine.
Để giảm nhẹ các thiệt hại do thiên tai gây ra, các nhà khoa học đã phát triển nhiều phƣơng pháp để dự đoán thiên tai trƣớc khi chúng xảy ra nhằm giúp ngƣời dân chủ động hơn trong việc đối phó với thiên tai. Số lượng thiên tai từ 1989-2014 600 12 500 10 400 8 Số thiên tai Thế giới 300 6 Châu Á 200 4 Việt Nam 100 2 0 0 1989 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2003 2005 2007 2009 2011 2013 Nguồn: Embed.1: Số lƣợng thiên tai đƣợc ghi nhận trên toàn thế giới và tại Việt Nam Khi thiên tai xảy ra, các nhà hoạch định chính sách sẽ có những giải pháp để giảm nhẹ tác động của thiên tai đối với ngƣời dân và toàn bộ nền kinh tế. Để có đƣợc một giải pháp tốt, các nhà hoạch định chính sách cần biết đƣợc những tác động của thiên tai. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tác động của thiên tai đối với các biến số kinh tế chƣa đƣợc thực hiện nhiều, đặc biệt là những nghiên cứu cho một quốc gia riêng lẻ (Noy, 2009).
Trang 1 Luan van Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu tác động của thiên tai đối với nền kinh tế chủ yếu là trong ngắn (Thomas, 2010; Vũ Băng Tâm và Ilan Noy, 2010; Lê Đăng Trung, 2013; Vũ Băng Tâm và Eric Iksoon Im, 2013; Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2013). Các nghiên cứu trong dài hạn chƣa đƣợc thực hiện nhiều. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu tác động dài hạn của thiên tai trên thế giới cũng chƣa đƣợc thống nhất. Do đó, bài viết này nhằm nghiên cứu ảnh hƣởng của thiên tai đối với thu nhập đầu ngƣời tại Việt Nam cả trong ngắn hạn và trong dài hạn.
Nghiên cứu áp dụng phƣơng pháp Synthetic control, phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc xem là bán thực nghiệm bằng cách so sách sự khác biệt của nhóm xử lý (treatment group) và nhóm kiểm soát (control group). So với phƣơng pháp hồi quy, ngoài ƣu điểm là nghiên cứu đƣợc tác động dài hạn của thiên tai, phƣơng pháp Synthetic control còn đánh giá đƣợc sự thay đổi của tác động theo thời gian. Bão Durian đƣợc chọn cho tình huống nghiên cứu bởi vì nó là một trong năm cơn bão gây ra thiệt hại về tài sản lớn nhất từ năm 2002-2012. Đồng thời bão Durian xảy ra vào năm 2006, thời điểm thích hợp để áp dụng phƣơng pháp Synthetic Control, phƣơng pháp đòi hỏi một chuỗi dữ liệu trƣớc bão và một chuỗi dữ liệu sau bão.
Bão Durian gây thiệt hại chủ yếu cho hai tỉnh Bến Tre và Bà Rịa - Vũng Tàu trong năm 2006. Tuy nhiên trong phân tích này, Bến Tre đƣợc chọn làm nhóm xử lý vì Bến Tre không bị ảnh hƣởng thêm bởi bất kỳ “thiên tai lớn” nào từ sau năm 2006. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá tác động của thiên tai đối với thu nhập đầu ngƣời tại Việt Nam Đánh giá tác động của thiên tai lên các thành phần của thu nhập đầu ngƣời Đƣa ra một số gợi ý chính sách Phạm vi nghiên cứu Đề tài giới hạn việc nghiên cứu thiên tai thông qua đánh giá tác động của bão Durian đối với thu nhập đầu ngƣời tại tỉnh Bến Tre Việt Nam. Các số liệu về thiên tai sẽ đƣợc thu thập từ desinventar.net, các số liệu về kinh tế đƣợc thu thập từ tổng cục thống kê trong giai đoạn 2002-2012.
Ý nghĩa thực tiễn Trang 2 Luan van Đề tài góp phần làm phong phú hơn những nghiên cứu về thiên tai góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách có những quyết định tốt hơn nhằm giảm những tác động của thiên tai đối với nền kinh tế. Phƣơng pháp Synthetic control là một phƣơng pháp chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi tại Việt Nam. Đề tài góp phần làm hoàn thiện hơn những phƣơng pháp đánh giá tác động, đặc biệt là những tác động của những yếu tố ngoại sinh đối với những biến số kinh tế. Bố cục đề tài Nội dung của đề tài bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết Trình bày tóm tắt các nghiên cứu có liên quan trong đó có các nghiên cứu trong nƣớc và nghiên cứu ngoài nƣớc, các nghiên cứu trong ngắn hạn và trong dài hạn.
Chƣơng này cũng giới thiệu các lý thuyết nền tảng cho việc nghiên cứu của đề tài. Đó là lý thuyết về thiên tai, khung tác động của thiên tai đối với thu nhập đầu ngƣời và những nghiên cứu thiên tai tiêu biểu dùng khung phân tích này. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp Synthetic control đƣợc sử dụng cho vấn đề nghiên cứu. Synthetic control là phƣơng pháp đánh giá tác động cả trong ngắn hạn và dài hạn, tùy thuộc vào mức độ dữ liệu đƣợc thu thập trong mô hình.
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Các kết quả về việc đánh giá tác động của bão Durian đƣợc trình bày. Các tác động này bao gồm: Tác động đến thu nhập đầu ngƣời Tác động đến thu nhập từ lƣơng Tác động đến thu nhập từ thƣơng mại, dịch vụ Tác động đến thu nhập từ nông – lâm – ngƣ nghiệp. Chƣơng 4: Kết luận và kiến nghị Trang 3 Luan van Kết luận đƣợc rút ra từ đề tài là thiên tai có tác động đến thu nhập đầu ngƣời, tác động chủ yếu của thiên tai là đối với thu nhập từ nông – lâm – ngƣ nghiệp. Tác động của thiên tai có thể kéo dài hơn 5 năm sau khi thiên tai xảy ra.
Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần lƣu ý đến việc hỗ trợ ngƣời dân khắc phục thiên tai trong dài hạn. Trang 4 Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Định nghĩa thiên tai Theo Luật Phòng Chống Thiên Tai 2013, “Thiên tai là hiện tƣợng tự nhiên bất thƣờng có thể gây thiệt hại về ngƣời, tài sản, môi trƣờng, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mƣa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mƣa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mƣa lũ hoặc dòng chảy, nƣớc dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mƣa đá, sƣơng muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác.” Theo định nghĩa của CRED một sự kiện thiên nhiên đƣợc gọi là thiên tai (natural disaster) khi thoả một trong 4 điều kiện sau: (1) Hơn 10 thiệt mạng, (2) Hơn 100 đƣợc bị ảnh hƣởng, (3) Tình trạng khẩn cấp đƣợc ban bố, (4) cần đến sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế. Nhìn chung, tại Việt Nam thiên tai phổ biến đƣợc ghi nhận là bão và lũ lụt, xảy ra chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 11 hàng năm. Trong đề tài này, các thiên tai đƣợc phân tích dựa vào định nghĩa của CRED.2 Khung phân tích tác động của thiên tai đối với thu nhập đầu ngƣời Để phân tích tác động của thiên tai đối với thu nhập đầu ngƣời, tác giả sử dụng mô hình tăng trƣởng kinh tế của Solow(1956).
Tuy mô hình có một số hạn chế nhất định, nhƣng nó rất hữu ích trong việc giải thích các nguyên nhân đối với tăng trƣởng kinh tế. Trong mô hình này, đại lƣợng dùng để đo lƣờng tăng trƣởng kinh tế có thể là GDP đầu ngƣời, thu nhập hoặc chi tiêu đầu ngƣời. Tại Việc Nam, số liệu thu nhập đầu ngƣời đƣợc thu thập hai năm một lần trong bộ dữ liệu VHLSS (Vietnam Household Living Standard Survey). Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng số liệu thu nhập đầu ngƣời làm đại lƣợng đo lƣờng cho việc phát triển kinh tế.
Trang 5 Luan van y D y=f(k) y* y=Y/L: GDP đầu E y** ngƣời hoặc thu nhập (δ+gL)k đầu ngƣời. k=K/L: tích lũy tài sản trên đầu ngƣời. sf(k) B s: tỷ lệ tiết kiệm A δ: tỷ lệ khấu hao C gL: tốc độ tăng dân số k** k* k Hình 1.1: Mô hình tăng trƣởng kinh tế Solow Nguồn: Nguyễn Trọng Hoài (2013) Để sử dụng mô hình Solow cho việc phân tích tác động của thiên tai đến tăng trƣởng kinh tế, một số giả định sau sẽ đƣợc đặt ra. Đầu tiên, năng suất biên của lao động và tài sản là không thay đổi.
Kế đến số lao động đƣợc cho là không thay đổi (thiệt hại về ngƣời không đáng kể so với toàn bộ dân số, nếu giả định này không đảm bảo ta phải phân tích ảnh hƣởng của sự thay đổi số lƣợng lao động đến sản lƣợng đầu ra). Công nghệ cũng đƣợc giữ không đổi trong phân tích tác động của thiên tai (có thể sau thiên tai những nhà máy bị thiệt hại sẽ đƣợc đầu tƣ công nghệ hiện đại hơn). Với những giả định trên, tác động của thiên tai đến tăng trƣởng sẽ đƣợc phân tích nhƣ sau. Giả sử nền kinh tế đang sản xuất ở mức sản lƣợng trên đầu ngƣời là y* và đầu tƣ vốn trên mỗi lao động ở mức k*.
Khi thiên tai xảy ra, thiên tai sẽ tác động đến các tài sản hữu hình nhƣ nhà xƣởng, máy móc, mùa màng và gây ra thiệt hại về ngƣời. Khi thiên tai tác động đến các tài sản hữu hình nó sẽ làm cho tích lũy tài sản trên đầu ngƣời trong ngắn hạn giảm từ k* xuống k**. Khi đó sản lƣợng đầu ngƣời sẽ giảm một lƣợng tƣơng ứng từ y* xuống y** trong ngắn hạn. Tại mức tích lũy tài sản k** ta thấy tiết kiệm sẽ ở tại điểm B trong khi khấu hao cho toàn bộ nền kinh tế Trang 6 Luan van đang nằm ở điểm C, do đó sẽ có một lƣợng vốn dƣ thừa sẽ đƣợc đƣa vào đầu tƣ mới.
Ngoài ra, cùng với những hoạt động tái thiết sau thiên tai, đầu tƣ sẽ tăng lên làm cho tiết kiệm(đầu tƣ) sẽ dần quay trở lại điểm A. Khi các hoạt động tái thiết nền kinh tế hoàn tất thì mức sản lƣợng sẽ quay trở lại điểm D. Khi đó sản lƣợng nền kinh tế sẽ trở lại bình thƣờng giống nhƣ lúc chƣa có thiên tai. Hay nói cách khác, trong dài hạn nền kinh tế sẽ không bị tác động bởi thiên tai.
Tuy nhiên, kết luận trên sẽ đi kèm với giả định là số lao động không bị ảnh hƣởng bởi thiên tai.